Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số:150/2024/HS-ST

Ngày: 12/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Dung;

Bà Hoàng Thị Kim Phượng.

-Thư ký phiên toà:bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 136/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 10năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân B,( tên gọi khác: Không), S năm 1993; tại thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân L và bà: Phạm Thị L1;Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

bị tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 20/7/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt).

* Bị hại:

  • - Ông Văn Đình T, sinh năm 1955; Nơi thường trú: Phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện tại: số nhà D, đường H, thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt);
  • - Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Tổ B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nơi tạm trú: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.( vắng mặt);
  • - Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1976; Nơi thường trú: phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện tại: số nhà A đường H, phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; (vắng mặt);
  • - Chị Lại Thị N, sinh năm 1998; Địa chỉ: tổ E, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; ( vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thành L3, sinh năm 1976; Địa chỉ: xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt);

* Người làm chứng:

  • - Ông Trần Văn A, sinh năm 1972; ( vặng mặt);
  • - Ông Đỗ Văn K, sinh năm 1980; (vắng mặt);
  • - Anh Vương Đức C, sinh năm 2001; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Lê Xuân B là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài, B cùng với người bạn xã hội tên T2 (chưa rõ lai lịch) cùng thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, huyện H và thành phố N tỉnh Ninh Bình và cụ thể như sau:

-Lần 1: Ngày 06/07/2024, B đang làm phụ hồ tại thành phố Hà Nội thì T2 rủ lên thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đi trộm cắp tài sản, B đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 07/07/2024, B bắt xe khách đến khu vực D thuộc thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc gặp T2 sau đó cả hai bắt xe buýt đến thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và nghỉ tại một nhà nghỉ do T2 đã thuê từ trước. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, cả hai đi tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 21 giờ, khi đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, T2 phát hiện một nhà dân đang mở cửa, trong nhà có để một số xe mô tô trong đó có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát 88G1-538.72 đang cắm chìa khóa ở ổ khóa điện là xe của anh Nguyễn Minh T1 trong cốp xe có 01 ví giả da màu nâu bên trong có 02 giấy tờ xe Wave và xe Novo, 01 căn cước công dân, 02 thẻ ngân hàng, 01 thẻ bảo hiểm y tế đều của anh Nguyễn Minh T1. T2 bảo với B vào lấy chiếc xe còn mình đứng ngoài cảnh giới. B đi vào trong nhà thấy không có người nên dắt chiếc xe trên ra ngoài và nổ máy đi theo đường quốc lộ 2B đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc thuê một phòng nghỉ, còn T2 quay về phòng nghỉ ở thị trấn H, huyện T. Khoảng 11 giờ ngày 08/07/2024, T2 đến nhà nghỉ nơi B đang ở rồi cùng B đi xe mô tô vừa trộm cắp được về thành phố Hà Nội.

- Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 09/07/2024, T2 rủ B về thành phố N tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. B điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 88G1-538.72 vừa trộm cắp của anh T1 chở T2 ngồi sau đi theo hướng Quốc lộ A về thành phố N, trên đường đi T2 nói: “Giờ đi về Ninh Bình vào các quán T7 có sơ hở thì lấy trộm tiền”, B đồng ý. Khoảng gần 14 giờ 00 cùng ngày, khi đi đến khu vực xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình thấy Cửa hàng thuốc L bên đường, T2 nói: “Dừng xe lại, vào mua lọ thuốc”, B dừng xe cách cửa hàng thuốc khoảng 2-3 mét, T2 xuống xe vào bên trong cửa hàng thuốc, nhìn thấy tại ngăn thứ nhất trong tủ kính thẳng cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu đen lắp sim Viettel số 0343.765.xxx có ốp lưng chất liệu silicon trong suốt màu trắng của chị Lại Thị N là nhân viên của cửa hàng thuốc. T2 mua một tuýp thuốc sau đó quay ra nói với B: “Bên trong có cái điện thoại”, B hiểu ý T2 sẽ trộm cắp chiếc điện thoại trên nên ngồi trên xe mô tô cảnh giới cho T2. T2 quay lại cửa hàng thuốc, lợi dụng lúc không có ai trông coi nên đã rướn người, dùng tay trái lấy chiếc điện thoại nhanh chóng ra ngoài, lên xe B bỏ chạy. B điều khiển xe chở T2 đi về thành phố N, trên đường đi T2 nói: “Tao lấy được cái điện thoại”. T2 và B đến một nhà nghỉ tại phường N, thành phố N thuê phòng nghỉ.

- Lần 3: Khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, sau khi ăn tối T2 và B đi lòng vòng trên các tuyến đường tại thành phố N để tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Khoảng 19 giờ 00 ngày 09/7/2024, T2 và B dừng xe tại một ngã ba, B xuống xe còn T2 điều khiển xe một mình đi tìm tài sản. Một lúc sau, T2 quay lại đổi lái, B điều khiển xe chở T2 ngồi sau chỉ đường. Khi đến gần Cửa hàng T8, tại số D đường H, thôn P, xã N, thành phố N do ông Văn Đình T làm chủ, B dừng xe cách cửa hàng tạp hóa khoảng 3- 4 mét, ngồi trên xe cảnh giới còn T2 đi vào cửa hàng. Quan sát thấy không có người trông coi, T2 đi đến bàn thu ngân, dùng tay trái mở ngăn kéo rồi dùng cả hai tay lấy số tiền mặt trong ngăn kéo, chạy ra ngoài lên xe B đang nổ máy đợi sẵn, B nhanh chóng điều khiển xe chở T2 tẩu thoát. Sau khi trộm cắp được tài sản, T2 và B đi về nhà nghỉ, tại đây T2 kiểm đếm số tiền trộm cắp được 1.600.000 đồng và đưa cho B 200.000 đồng.

- Lần 4: Khoảng 30 phút sau, B tiếp tục điều khiển xe mô tô từ nhà nghỉ chở T2 đi tìm các cửa hàng tạp hóa thấy sơ hở để trộm cắp. Khi đi qua Cửa hàng T8, tại số A, đường H, phố B, phường N, thành phố N do chị Nguyễn Thị L2 làm chủ, thấy có sơ hở nên B vòng xe quay lại đi từ từ để cho T2 quan sát, B dừng xe dưới lòng đường phía ngoài cửa hàng, ngồi trên xe cảnh giới cho T2. T2 nói sẽ vào hỏi mua thùng mì tôm thấy có gì sơ hở là lấy. Sau đó T2 đi vào cửa hàng, gặp chị L2 đang ngồi ở bàn thu ngân, T2 giả vờ hỏi mua thùng mỳ tôm rồi lợi dụng lúc chị L2 đứng dậy đi lấy mì tôm thì T2 dùng tay phải mở ngăn kéo đựng tiền trong bàn thu ngân lấy một xấp tiền mặt, cùng lúc này chị L2 nghe thấy tiếng mở ngăn kéo thì quay lại, phát hiện T2 đang lấy tiền nên hô hoán, T2 cầm tiền chạy ra ngoài lên xe B đang nổ máy đợi sẵn, B nhanh chóng điều khiển xe chở T2 tẩu thoát. B chở T2 đi theo hướng Quốc lộ A để về tỉnh Thanh Hóa, khi đi được khoảng vài Km thì T2 xuống xe bắt xe ô tô đi sau, còn B tiếp tục điều khiển xe về Thanh Hóa. B điều khiển xe đến thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa thuê 01 nhà nghỉ để lẩn trốn. Khi ở nhà nghỉ, T2 gọi điện, nhắn tin cho B thông báo số tiền vừa trộm cắp được tại Cửa hàng T8 là 4.300.000 đồng. Khoảng 10 giờ ngày 10/07/2024, T2 đến nhà nghỉ nơi B đang ở, tại đây T2 đã chia cho B số tiền trộm cắp được ở 02 cửa hàng tạp hóa là 2.800.000 đồng. Sau đó T2 lấy chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 88G1-538.72 đi về Nghệ An còn B về nhà tại phường N, thị xã N, Thanh Hóa.

Ngày 11/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiếp nhận đơn trình báo của ông Văn Đình T và chị Nguyễn Thị L2 về việc bị kẻ gian trộm cắp tài sản. Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra xác minh, triệu tập Lê Xuân B để làm việc; tại cơ quan điều tra Lê Xuân B viết đơn đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Thu giữ của Lê Xuân B: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 lắp sim số 0369862074; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus, không lắp sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, không lắp sim; Số tiền 85.000 đồng; 01 áo cộc tay màu trắng, 01 áo sơ mi dài tay màu xám đen; 01 quần đùi màu xám, 01 đôi giày màu trắng.

Ngày 16/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N thông báo và gửi tài liệu liên quan cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình để giải quyết theo thẩm quyền đối với hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime của chị Lại Thị N tại Cửa hàng T9 thuộc khu vực xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình của B. Tại văn bản số 719/Cv-CSĐT, ngày 17/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H,tỉnh Ninh Bình đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành điều tra giải quyết theo quy định do hành vi trộm cắp của Lê Xuân B được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau nên việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm.

Sau khi cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Xuân B về tội Trộm cắp tài sản để điều tra, ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định chuyển vụ án hình sự trộm cắp tài sản xảy ra ngày 07/7/2024 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 03/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết nhập vụ án hình sự trộm cắp tài sản xảy ra ngày 07/7/2024 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc với vụ án hình sự trộm cắp tài sản xảy ra ngày 09/7/2024 tại huyện H và thành phố N, tỉnh Ninh Bình để điều tra theo quy định.

Quá trình điều tra xác minh vụ trộm cắp tài sản xảy tại thị trấn H, huyện T, ngày 11/09/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nhận bàn giao của Công an xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, số máy: JA39E3030385, số khung: RLHJA3924PY418032 (xe đã qua sử dụng). Chiếc xe này do 01 đối tượng sử dụng, đi đến cửa hàng T8 anh Hoàng Bá N1, sinh năm 1990, trú tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An làm chủ sau đó đối tượng có hành vi lén lút rồi bỏ chạy và bỏ lại chiếc xe trên. Qua xác minh xác định đây là chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Minh T1 bị Lê Xuân B và T2 trộm cắp ngày 07/7/2024 tại khu vực tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 17/07/2024, Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận:Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu đen, cùng với ốp lưng và sim điện thoại có giá trị 900.000 đồng

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 491/KL-HĐĐG ngày 24/7/2024 và Công văn số 586/HDĐG ngày 19/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh bạc, số máy: JA39E3030385, số khung: RLHJA3924PY418032 có giá trị 15.000.000 đồng.

Ngày 31/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định số 1491/QĐ-ĐCSHS trưng cầu giám định đối với 04 tệp video ghi lại hình ảnh T2 và B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Cửa hàng T8 và Cửa hàng T8 được lưu trữ trong 02 đĩa DVD-R và 01 USB. Tại bản kết luận giám định số 832/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 02/10/2024, Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 tệp video lưu trữ trong 02 đĩa DVD-R và 01 USB gửi giám định.

Kiểm tra 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy J7 Prime thu giữ của B: không có nội dung liên quan.

Kiểm tra điện thoại Iphone 6 plus không lắp sim thu giữ của B: Trong nhật ký cuộc gọi có cuộc gọi đi đến giữa số điện thoại của B với số điện thoại 0392.254.xxx được Bảo lưu tên A T3 NG An; có tin nhắn giữa A T3 NG A1 với B liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. B khai T2 đưa cho B chiếc điện thoại này vào ngày 07/7/2024 và B đã lắp sim 0369862074 vào để sử dụng liên lạc với T2.

Kiểm tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 lắp sim 0369862074 thu giữ của B: có tin nhắn giữa số điện thoại của B và số điện thoại được Bảo lưu tên trong danh bạ là Thành nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản, có 02 tin nhắn của T2 nhắn vào hơn 21 giờ ngày 09/7/2024 “tiền được 4 triệu 300 nha”, “vay em nhe tiền duoc 4 triệu 300 em a”. B khai T2 nhắn tin cho B nói số tiền trộm cắp tại cửa hàng T8 là 4.300.000 đồng.

Biên bản làm việc ngày 11/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã cho Lê Xuân B xem đoạn video được sao trích từ camera của Cửa hàng T8: B xác định người điều khiển xe chờ bên ngoài cửa hàng là B còn người ngồi sau vào trong cửa hàng là T2, sau khi T2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì B đã điều khiển xe mô tô chở T2 tẩu thoát. Cho B xem đoạn video được sao trích từ camera của cửa hàng T8: B xác định nam thanh niên vào cửa hàng T10 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là người tên T2 đi cùng B.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N: đã tách theo hồ sơ vụ án 01 chiếc điện thoại chiếc điện thoại Iphone 6 plus không lắp sim thu giữ của B liên quan đến nam thanh niên tên T2 để tiếp tục xác minh làm rõ. Ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại: cho chị Lại Thị N 01 chiếc điện thoại S1; Trả lại cho anh Nguyễn Minh T1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc. Trả lại cho Lê Xuân B 01 áo cộc tay màu trắng, 01 áo sơ mi dài tay màu xám đen, 01 quần đùi màu xám đen,01 đôi giày màu trắng. Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A11, số tiền 85.000 đồng.

Gia đình B đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị L2 số tiền 7.000.000 đồng, cho ông Vũ Đình T4 số tiền 1.600.000 đồng. Chị L2 và ông T4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Xuân B.

Quá trình điều tra, Lê Xuân B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại bản cáo trạng số 144/CT- VKSNDTPNB, ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Lê Xuân B ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: bị cáo Lê Xuân B phạm tội “ Trộm cắp tài sản";

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Xuân B từ 09 - 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/7/2024.

- Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy All, số IMEI1: 353279114493227, số IMEI2: 353280114493225, lắp sim số 0369862074. Trả lại cho bị cáo Lê Xuân B số tiền 85.000 đồng thu giữ của B nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí hình sư sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Xuân B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên; Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Anh Nguyễn Thanh L4 trình bày: anh là anh rể của bị cáo, được bị cáo ủy quyền nhận lại số quần áo, giầy của bị cáo bị Cơ quan điều tra thu giữ và khi gia đình được thông báo về việc bị cáo nhờ gia đình bồi thường cho bị hại, anh đã đứng ra thay mặt gia đình bồi thường cho ông T4 số tiền 1.600.000 đồng, chị L2 số tiền 7.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của gia đình để bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nên anh không có yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền đã bỏ ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản sao trích dữ liệu camera, biên bản làm việc cho B xem các đoạn video sao trích từ camera; biên bản kiểm tra điện thoại, kết luận định giá tài sản; biên bản xác định hiện trường + sơ đồ + bản ảnh; vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng, người chứng kiến...Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 07/7/2024 và ngày 09/7/2024, tại địa bàn huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, huyện H và thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Lê Xuân B cùng người thanh niên tên T2 đã 04 lần có hành vi lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác trong việc trông coi, quản lý tài sản của các chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của họ với tổng trị giá tài sản là 21.800.000 đồng, cụ thể:

  • Lần 1: Khoảng 21 giờ ngày 07/7/2024, tại khu vực tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Xuân B đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 88G1-538.72 trị giá 15.000.000 đồng của anh Nguyễn Minh T1;
  • Lần 2: Khoảng 14 giờ ngày 09/7/2024 tại Cửa hàng T9 thuộc xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, Lê Xuân B cùng người thanh niên tên T2 đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime lắp sim V số 0343765488 và ốp lưng điện thoại trị giá 900.000 đồng của chị Lại Thị N.
  • Lần 3: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/7/2024 tại Cửa hàng T8 ở số D đường H, thôn P, xã N, thành phố N, Lê Xuân B cùng người thanh niên tên T2 đã trộm cắp số tiền 1.600.000 đồng của ông Văn Đình T .
  • Lần 4: Khoảng 20 giờ ngày 09/7/2024 tại cửa hàng T8 ở số A đường H, phố B, phường N, thành phố N, Lê Xuân B cùng người thanh niên tên T2 đã trộm cắp số tiền 4.300.000 đồng của chị Nguyễn Thị L2. ( Theo lời khai của chị L2 số tiền bị trộm cắp là 7.000.000 đồng, Cơ quan điều tra chưa bắt được T2, căn cứ lời khai của bị cáo B, tin nhắn của người thanh niên tên T2 nhắn cho bị cáo B và các tài liệu chứng cứ khác xác định số tiền chị L2 bị chiếm đoạt là 4.300.000 đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Xuân B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 BLHS: Tội trộm cắp tài sản:

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...
  2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

* Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo B thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản trong đó có 2 lần trộm cắp tài sản mà tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho chị L2 và ông T5; chị L2, ông T5 có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của mình; nên được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhân thân tốt, có 01 tình tiết tăng nặng, nhiều tình tiết giảm nhẹ, 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần phải xử lý nghiêm minh áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo với lý do trong tin nhắn điện thoại mà T2 và bị cáo B đã nhắn cho nhau thể hiện T2 là người khởi xướng, rủ rê; trong 04 lần trộm cắp tài sản bị cáo B chỉ có 1 lần trực tiếp trộm cắp còn 3 lần là người cảnh giới, giúp sức cho T2 trộm cắp tài sản.

* Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

[2] Các vấn đề khác:

[2.1] Đối với người thanh niên tên T2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với bị cáo B: đến nay chưa xác định được T2, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra quyết định số 2193/QĐ-ĐCSHS ngày 07/10/2024, tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để tiếp tục điều tra xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

[2.2] Xử lý vật chứng và các tài sản bị thu giữ:

  • - Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus không lắp sim thu giữ của bị cáo B: bị cáo khai nhận chiếc điện thoại trên là do T2 đưa cho bị cáo để sử dụng liên lạc với T2 đi trộm cắp tài sản. Đến nay chưa xác định được T2 nên chưa xác định nguồn gốc chiếc điện thoại, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tách tài liệu liên quan đến chiếc điện thoại trên để tiếp tục xác minh làm rõ.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, thu giữ của Lê Xuân B: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Lại Thị N đã bị bị cáo B trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc điện thoại cho chị N là có căn cứ, đúng quy định.
  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, số máy: JA39E3030385, số khung: RLHJA3924PY418032 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nhận bàn giao từ Công an xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An: quá trình điều tra xác định đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn T6; Ông T6 khai nhận đã bán chiếc xe cho anh Nguyễn Minh T1 nên đây là tài sản hợp pháp của anh T1 đã bị bị cáo B trộm cắp ngày 07/7/2024; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe trên cho anh T1 là có căn cứ,đúng quy định.
  • - Đối với 01 áo cộc tay màu trắng, 01 áo sơ mi dài tay màu xám đen; 01 quần đùi màu xám, 01 đôi giày màu trắng thu giữ của bị cáo B: sau khi thu giữ ghi nhận đặc điểm xác định đây là trang phục của bị cáo B đã mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát đều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bị cáo B, bị cáo đã ủy quyền cho anh Nguyễn Thành L3 nhận lại tài sản.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11lắp sim số 0369862074 (điện thoại cũ đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo B: đây là tài sản của bị cáo B sử dụng làm phương tiện để liên lạc với T2 đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 85.000 đồng thu giữ của bị cáo B: sau khi trộm cắp tiền tại 02 cửa hàng T8, người thanh niên tên T2 đã chia cho bị cáo B số tiền 2.800.000 đồng, bị cáo B đã tiêu xài và chỉ còn lại số tiền 85.000 đồng, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại cả phần của người thanh niên tên T2; do vậy trả lại cho bị cáo số tiền trên nhưng theo yêu cầu của bị cáo sẽ giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

[2.2]Về trách nhiệm dân sự:

  • - Anh Nguyễn Minh T1 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, số máy: JA39E3030385, số khung: RLHJA3924PY418032 không có biển kiểm soát. Quá trình điều tra anh T1 khai trong cốp xe mô tô khi bị cáo trộm cắp anh còn để 01 ví giả da màu nâu bên trong có 02 giấy tờ xe Wave và giấy tờ xe Novo, 01 căn cước công dân, 02 thẻ ngân hàng, 01 thẻ bảo hiểm y tế và xe có đeo biển kiểm soát 88G1-538.72; các tài sản này không thu hồi được, tuy nhiên anh T1 xác định đây là những tài sản không lớn, anh tự khắc phục làm lại được nên không có yêu cầu đề nghị gì đối với những tài sản trên.
  • - Chị Lại Thị N đã được Cơ quan điều tra trả lại 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime. Quá trình điều tra Chị N khai, chiếc điện thoại của chị có lắp sim Viettel số 0343.765.xxx và có ốp lưng chất liệu silicon trong suốt, các tài sản này không thu hồi được, theo kết luận định giá tài sản trị giá là 200.000 đồng, chị N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
  • - Anh Nguyễn Thành L3 là người nhà bị cáo B đã bồi thường cho ông Văn Đình T số tiền 1.600.000 đồng. Quá trình điều tra ông T không xác định được chính xác số tiền mà bị cáo B và T2 đã trộm cắp của ông nhưng căn cứ vào lời khai của bị cáo, ông T nhất trí với số tiền bị cáo B bồi thường.
  • - Anh Nguyễn Thành L3 là người nhà bị cáo B đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị L2 số tiền 7.000.000 đồng theo yêu cầu của chị L2. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của gia đình bị cáo với chị L2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi nhận lại tài sản, bị hại đều không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo B về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Anh Nguyễn Thành L3 cũng không có yêu cầu gì về số tiền đã trả cho bị hại thay cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[3]Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Điều 106; Điều136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. - Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân B phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: bị cáo Lê Xuân B 10 (mười ) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11/7/2024.
  3. Xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, số IMEI1: 353279114493227, số IMEI2: 353280114493225, lắp sim số 0369862074 thu giữ của bị cáo B. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
    • + Trả lại cho bị cáo Lê Xuân B số tiền 85.000 đồng (tám mươi lăm nghìn đồng) nhưng theo yêu cầu của bị cáo tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. ( số tiền hiện đang ở tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình theo ủy nhiệm chi lập ngày 04/11/2024).
  4. Về án phí: Bị cáo Lê Xuân B phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND- TPNB;
  • - THADS- TPNB;
  • - THAHS;
  • - Công an TPNB;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn./.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Giang Thị Thúy Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: B 10 tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger