TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2024/DS-PT Ngày 10 tháng 7 năm 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS- ST ngày 21/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 72/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐ-PT ngày 11/3/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 56/2024/QĐ-PT ngày 01/4/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 73/2024/QĐ-PT ngày 09/5/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa ngày 04/6/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa ngày 26/6/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955 (có mặt)
- Cùng địa chỉ: Thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 (có mặt)
- Địa chỉ: Thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1952 (có mặt)
- - Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị S: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 (có mặt)
- Địa chỉ: Thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Do bà Thân Thị L - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã V là đại diện theo ủy quyền. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Do ông Giáp Văn P- Chức vụ: Chủ tịch là đại diện theo pháp luật. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, bị đơn anh Nguyễn Văn H.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn C trình bày: Gia đình ông bà hiện đang sử dụng 02 thửa đất trong đó: thửa đất thứ nhất là thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12 có diện tích 960m² được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) lần đầu năm 2001, năm 2006, ông bà đổi từ GCNQSDĐ màu đỏ sang GCNQSDĐ màu hồng, năm 2016 tách thửa cho các con thì còn lại diện tích 631.7m², được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD152054 ngày 29/02/2016 thành thửa thửa đất số 58, tờ bản đồ số 12 mang tên hộ ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M; Thửa đất thứ hai liền kề với thửa đất số 16 là thửa đất 184, tờ bản đồ số 2 có diện tích 2067.5m² đất vườn. Hai thửa đất này được bố mẹ của ông bà khai hoang từ năm 1967, quá trình sử dụng đến năm 1978 ông Nguyễn Văn Đ là bố đẻ anh Nguyễn Văn H đến xin đất để ở vì chỗ cũ của gia đình ông Nguyễn Văn Đ không ở được mỗi khi bị lụt lội, khi đó bố mẹ của ông bà và ông bà đã đồng ý cho ông Đ hai bãi trồng sắn liền kề nằm trong khu vực trồng tre của gia đình ông bà. Phần ranh giới giữa hai nhà là rặng tre rộng khoảng 10m dài khoảng 15m. Từ năm 2007 đến năm 2012 ông bà chuyển chỗ khác ở, khi về thăm đất thì thấy bà Nguyễn Thị S mẹ anh Nguyễn Văn H đã phá rặng tre xây công trình phụ và tường bao lấn sang đất của ông bà mà ông bà vẫn cho sử dụng nhờ để phơi rơm và xếp rơm không hỏi gì ông bà, nhưng do khi đó ông bà mới cưới cho con nên các con không muốn xảy ra tranh chấp và nghĩ đất đã được cấp GCNQSDĐ sau khác phải trả theo diện tích, ranh giới đã được cấp. Tuy nhiên bà cũng thường xuyên nhắc nhở khi nào làm nhà thì trả ông bà diện tích này.
Khi anh H làm nhà (năm 2020) ông bà cũng đã yêu cầu bà S là mẹ của anh H trả lại phần diện đất đã cho sử dụng nhờ mà trước đây để phơi rơm dạ. Xong anh H đã xây tường bao và nhà cấp 4 lợp mái tôn trên phần đất mà ông bà đã cho mượn, thấy vậy ông bà đã sang nhắc nhở thì bà S cũng như anh H cùng các con của bà S, đến xin gia đình ông bà cứ cho làm sau xác định đến đâu sẽ thanh toán trả bằng tiền. Do vợ chồng ông bà nghĩ, gia đình bà S cả đời lam lũ làm được nhà cũng như việc bà S sang xin nên ông và để cho làm, tuy nhiên trong quá trình sử dụng, do anh H làm nhà mái tôn không làm thoát nước cho mái tôn nên mỗi khi mưa nước từ nhà anh H và nhà cấp 4 chảy đã sối nước sang phần đất nhà ông bà, nước chảy ầm ầm sói mòn đất nhà ông bà, ông bà đã yêu cầu bà S và anh H làm hệ thống thoát nước không để nước chảy sang nhà bà sói mòn hết đất nhưng anh H không làm.
Tại đơn khởi kiện ông, bà yêu cầu anh H trả lại phần diện tích mà ông bà đã cho sử dụng nhờ tổng diện 81m² trong đó có 40,5 m² đất ở và 40,5 m² đất vườn. Sau khi có kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tài sản tại chỗ thì ông bà yêu cầu anh H phải tháo dỡ tường bao và phần nhà cấp 4 mái tôn trả lại cho ông bà 35,1 m² đất ở và 18,8 m² đất vườn.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh được bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S tặng cho quyền sử dụng thửa số 06, tờ bản đồ 10, diện tích 800 m², địa chỉ: thôn K, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận theo hồ sơ biến động số 000039 ngày 06/6/2012.
Nguồn gốc đất là do cha ông để lại cho hộ ông Nguyễn Văn Đ. Được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ số 284442 ngày 20/8/2001. Liền kề với thửa đất này là đất của cụ C1 (nay ông C, bà M sử dụng) thuộc thửa đất 16, tờ bản đồ 02, phần tiếp giáp (ranh giới) giữa hai thửa đất này có mấy bụi tre trồng trên diện khoảng 80 m². Khoảng năm 1979-1980 cụ C1 (bố ông Nguyễn Văn C) vừa bán vừa cho diện tích búi tre này cho cụ Nguyễn Văn S1 (ông nội anh H) với giá 02 hoặc 03 chỉ vàng, bố mẹ anh (ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị S) sử dụng ổn định, năm 1980-1982, bố mẹ anh đã xây dựng nhà ở và công trình phụ trên toàn bộ diện tích này sử dụng ổn định không xảy ra tranh chấp. Năm 2001 bố mẹ anh đã được cấp GCNQSDĐ có diện tích diện tích 800 m² trong đó có diện tích đất của mấy bụi tre này. Năm 2020 anh đã phá toàn bộ nhà và công trình phụ trước đây đã xây dựng trên diện tích đất 80 m² để xây dựng mới, khi tiến hành xây dựng ông C, bà M đã đòi phần diện tích 80 m² này của anh, do vậy anh đã mời UBND xã M về phân định mốc giới để anh tiếp tục xây dựng. Nay quan điểm của anh H xác định 80 m² đang có tranh chấp trước đây là của gia đình bà M, nhưng gia đình anh H đã mua lại, không lấn chiếm phần diện tích đất giáp ranh giữa hai bên gia đình (là búi tre trước đây). Do vậy anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S do anh H đại diện theo ủy quyền nhất trí với quan điểm của anh H, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu T1 (vợ anh H) không cung cấp bản tự khai cũng như gửi quan điểm cho Tòa án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V) do bà Thân Thị L - Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường đại diện theo ủy quyền trình bày: Thửa đất số 184, tờ bản đồ 12, diện tích 2067.5m² ở tại thôn K, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang chưa được cấp GCNQSD đất. Quy hoạch sử dụng đất vị trí đất này là SKX (đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm); hiện trạng sử dụng đất theo bản đồ quy hoạch là đất RSX (đất lâm nghiệp- Rừng sản xuất); hiện chưa có kế hoạch, chủ trương thu hồi đất để thực hiện dự án phát triển kinh tế xã hội. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Thuộc thẩm quyền của UBND xã M. Do đó đề nghị TAND huyện trao đổi với UBND xã M để được cung cấp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã M do ông Giáp Văn P - Chủ tịch UBND trình bày: Thửa đất số 184, tờ bản đồ 12, diện tích 2067.5m² đất vườn ở tại thôn K, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang có nguồn gốc ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị S2 (Bố mẹ đẻ ông Nguyễn Văn C) khai hoang để trồng cây từ trước năm 1967. Năm 1980 ông T2 chết, gia đình thống nhất giao cho ông Nguyễn Văn C quyền sử dụng, không có giấy tờ. Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M sử dụng ổn định trồng cây từ đó đến thời điểm phát sinh tranh chấp với ông Nguyễn Văn H. Quy hoạch sử dụng đất hiện trạng một phần là đất là đất rừng sản xuất, một phần là đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm. Thửa đất này đúng theo thông tin bản đồ địa chính xã M đo đạc năm 2007 đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cập nhật chỉnh lý. Theo bản đồ địa chính xã M đo đạc năm 2020 là một phần thửa đất số 160, tờ bản đồ số 36.
Thửa đất này chưa được cấp GCNQSD đất, chưa ai kê khai đăng ký đất đai theo điều 95, Luật đất đai năm 2013. Không ai đóng thuế đối với thửa đất này. Thửa đất không thuộc diện bị thu hồi. Thửa đất đang tranh chấp nên chưa đủ điều kiện cấp GCNQSD đất theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ là hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ gia đình ông Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn H tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá ngày 22/6/2023, xác định phần đất có tranh chấp: Phía Tây Bắc giáp Đồi; phía Đông Nam giáp đường; phía Đông Bắc giáp nhà anh H, phía Tây Nam giáp nhà ông C có diện tích 35,1m2 đất ở có hình BCDE và 18,8m² đất lâm nghiệp có hình GBE. Tài sản trên phần đất ở và đất lâm nghiệp gồm có: 58, 53m² tường xây 220mm bổ trụ và 5,1 m² nhà cấp 4 mái tôn. Giá trị đất được Hội định giá định giá cụ thể: Đất ở trị là 4.000.000đ/m²; Đất vườn trị giá là 2.000.0000đ/m²; Đất Lâm nghiệp trị giá: 13.000đ/m²; tường 220mm xây năm 2019 khấu hao còn 75% trị giá = 580.000đ/m²; Nhà cấp 4 bắn mái tôn khấu hao còn 75% trị giá = 580.000đ/m²; Sân gạch lát lá lem khấu hao còn 75% trị giá = 140.000đ/m².
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 80/223/DS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) đã tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C về việc kiện đòi phần diện tích đất giáp ranh với thửa đất của anh Nguyễn Văn H có diện tích 35,1m² đất ở có hình BCDE tại thôn Đ, xã M, huyện V (nay là thị xã V) tỉnh Bắc Giang. (có sơ đồ kèm theo)
Giao cho anh Nguyễn Văn H được sử dụng diện tích 35,1m² đất ở của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M có hình BCDE trong thửa đất 58, tờ bản đồ số 12 đứng tên quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M nhưng phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M trị giá diện tích 35,1m² đất ở nêu trên là 105.544.400 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M về việc kiện đòi phần diện tích đất giáp ranh 18,8m² đất lâm nghiệp có hình GBE.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền thi hành án, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 04/01/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M kháng cáo đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS- ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang theo hướng buộc bị đơn trả bà diện tích đất lấn chiếm, bà không đồng ý nhận bằng tiền.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn H kháng cáo đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS- ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc buộc anh trả diện tích đất tranh chấp 35,1 m².
Ngày 05/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS- ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đề nghị sửa một phần bản án, buộc anh H tháo dỡ tài sản, trả lại diện tích 35,1 m² đất ở cho bà M ông C, sửa địa chỉ của diện tích đất tranh chấp và sửa phẩn giải quyết về án phí, chi phí tố tụng các bên phải chịu theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Quá trình xét xử phúc thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc lại diện tích đất tranh chấp, kết quả như sau:
+ Đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 12, diện tích 631,7m² hiện do hộ bà M đang quản lý và sử dụng cho thấy: Hiện trạng sử dụng đất giảm (thiếu) 41,4 m², là diện tích đất hiện nay hộ ông H đã xây dựng bức tường 220mm, bổ trụ và làm sân, theo sơ đồ chồng ghép vẽ hiện trạng sử dụng đất là vị trí điểm ABB1A1; các cạnh cụ thể như sau: AB=6,6m; BB1=7,5m; B1A1=4,4m; A1A=7,8m.
+ Đối với thửa đất số 184, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.067,5m² hiện do hộ bà M đang quản lý và sử dụng cho thấy: Hiện trạng sử dụng đất giảm (thiếu) 42,8 m², là diện tích đất hiện nay hộ ông H đã xây dựng bức tường 220mm, bổ trụ, làm sân, xây nhà để xe và một phần bán mái tôn thò ra của nhà để xe, theo sơ đồ chồng ghép vẽ hiện trạng sử dụng đất là vị trí điểm B1CDA1; các cạnh cụ thể như sau: B1C=8,8m+0,7m+9,7m; CD=0,6m; DA1=18,7m; A1B1=4,4m.
Bà M và ông C thống nhất trình bày: Ông bà không có ý kiến gì đối với kết quả đo đạc lại. Đề nghị giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà theo kết quả đo đạc lại. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ bà M đã nộp thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông bà yêu cầu anh H trả diện tích đất ở lấn chiếm của ông bà theo kết quả đo đạc lại là 41,4 m² và tháo dỡ các tài sản là bức tường 220cm, bổ trụ và sân trên phần diện tích đất này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án, sau khi phân tích, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V); chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M; không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn H; sửa một phần Bản án sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 21/12/2023, của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) theo hướng:
- - Buộc anh H trả lại diện tích 41,4m² đất cho ông C, bà M, địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Và buộc anh H tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích đất này.
- - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M về việc kiện đòi phần diện tích đất giáp ranh 42,8m² đất lâm nghiệp.
- - Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định.
- Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã V do bà Thân Thị L đại diện theo ủy quyền đề nghị xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T1 và UBND xã M vắng mặt không có lý do, các đương sự không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) kháng nghị đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), buộc anh H tháo dỡ tài sản, trả lại diện tích 41,4 m² đất ở cho ông C, bà M; sửa địa chỉ của diện tích đất 41,4 m² và sửa phần giải quyết án phí, chi phí tố tụng; bà Nguyễn Thị M kháng cáo đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn trả bà diện tích đất lấn chiếm, bà không đồng ý nhận bằng tiền; anh Nguyễn Văn H kháng cáo đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc buộc anh trả diện tích đất tranh chấp.
[2.1] Xét nội dung vụ án, HĐXX thấy:
Nguyên đơn bà nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Văn C sử dụng 02 thửa đất, trong đó có thửa số 16, tờ bản đồ số 12 có diện tích 960m² được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 2001, năm 2016 tách thửa cho các con diện tích còn lại là 631,7m² và thành thửa 58, liền kề với thửa đất này là thửa đất 184, tờ bản đồ số 12 có diện tích 2.067,5m² đất lâm nghiệp tại thôn K, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang chưa được cấp GCNQSDĐ. Tiếp giáp với hai thửa đất nêu trên của bà M1 ông C là thửa đất số 06, tờ bản đồ 10, diện tích 800 m², địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang của anh Nguyễn Văn H được nhận tặng cho của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V (nay là thị xã V) xác nhận theo hồ sơ biến động số 000039 ngày 06/6/2012. Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2007 thì hiện trạng thửa đất anh Nguyễn Văn H đang sử dụng có diện tích 566,9 m². Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C bà M1 và hộ ông Đ (Bố của anh H) được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy định, không có ý kiến phản đối hay khiếu nại gì. Do vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp cho các hộ làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Theo kết quả chồng, ghép sơ đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất ngày 26/4/2024 với tờ bản đồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xác định diện tích đất tranh chấp là 41,4 m² (Nằm trong thửa đất số 58) hiện nay anh Nguyễn Văn H đang quản lý sử dụng.
Theo anh H: Năm 2020, khi anh xây nhà, công trình phụ, tường bao thì vợ chồng bà M1 đã có ý kiến, anh đã mời chính quyền địa phương về xác định mốc giới cụ thể, anh H tiếp tục làm nên anh xác định không lấn chiếm phần diện tích đất mà ông C bà M1 yêu cầu trả, mà phần đất này được được mua bán giữa ông nội anh và bố của ông Nguyễn Văn C. Phía ông C bà M1 không thừa nhận có việc mua bán, ngoài lời khai anh H thì không có tài liệu để chứng minh được việc này. Theo ông C bà M1 thì diện tích đất đang tranh chấp 41,4 m² ông bà không bán cho gia đình anh H, diện tích đất ở này nằm trong tổng diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông bà đã sử dụng ổn định từ trước năm 1967 cho đến nay.
Do vậy, ông C bà M1 khởi kiện yêu cầu anh H trả ông bà diện tích 41,4 m² đất ở (Nằm trong thửa đất 58) và buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất này là có căn cứ theo quy định tại các Điều 166, 168, 170, 203 của Luật đất đai; các Điều 158, 163, 166 của Bộ luật dân sự. Bản án sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện buộc anh H trả diện tích đất ở của ông C bà M1 là có căn cứ.
Đối với phần diện tích 42,8 m² đất lâm nghiệp thì thấy: Diện tích đất này từ năm 1967 đến nay vẫn do vợ chồng bà M1 quản lý sử dụng, có ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp với ai, tuy nhiên ông C bà M1 không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất nên chưa được nhà nước cấp quyền sử dụng đất, do vậy không đủ căn cứ để xác nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 42,8 m² đất lâm nghiệp cho vợ chồng bà M1. Nên bản án sơ thẩm không chấp nhận đối với yêu cầu này của ông C bà M1 là phù hợp.
Tuy nhiên bản án sơ thẩm xác định việc lấn chiếm đất của anh H không ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, cũng như quyền sử dụng đất, nếu phá bỏ phần tài sản do anh H xây dựng là nhà mái tôn diện tích 5.1m² và 58,29 m tường 220 và 48,8m² sân gạch lá nem sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết cấu nhà mái tôn và gây thiệt hại về kinh tế cho anh H nên cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất của anh H nhưng anh H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C giá trị đất là không phù hợp. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi diện tích đất lâm nghiệp của ông C bà M mà mái tôn được xây dựng trên diện tích đất lâm nghiệp. Còn trên diện tích đất ở 41,4 m² chỉ có một đoạn bức tường 220mm, bổ trụ và sân thì xác định đây không phải là công trình xây dựng kiên cố, nếu tháo dỡ không ảnh hưởng đến kết cấu nhà mái tôn, không ảnh hưởng đến sinh hoạt cho gia đình anh H. Do đó cần buộc anh H tháo dỡ toàn bộ tài sản xây dựng trên diện tích đất tranh chấp 41,4 m² và trả lại ông C bà M diện tích đất này.
[2.2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) kháng nghị đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), buộc anh H trả lại diện tích 41,4 m² đất ở cho ông C, bà M; Buộc anh H tháo dỡ tài sản xây dựng trên đất; sửa địa chỉ của diện tích đất 41,4 m² và sửa phần giải quyết án phí, chi phí tố tụng các bên phải chịu theo hướng phân tích nêu trên là có căn cứ.
[2.3] Xét kháng cáo của bà M, anh H: Từ phân tích, nhận định nêu trên: Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, bà M đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc anh H trả gia đình bà phần diện tích đất ở đã lấn chiếm, bà không đồng ý nhận bằng tiền mặt là có căn cứ và cần được chấp nhận. Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn H, kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, ông C; xác định diện tích 41,4 m² đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình anh H là không có căn cứ và không được chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng:
Chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Bà M, ông C phải chịu 2.700.000 đồng chi phí xem xét thẩm tại chỗ. Anh H phải chịu 5.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Do kháng cáo của bà M được chấp nhận, kháng cáo của anh H không được chấp nhận nên anh H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 23.800.000 đồng theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C được nhận lại tổng số tiền 29.300.000 đồng khi anh Nguyễn Văn H nộp.
[4]. Về án phí:
Ông C, bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nhưng được miễn vì là người cao tuổi; anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do một phần yêu cầu khởi kiện của ông C bà M được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ các Điều 166, 168, 170, 203 của Luật đất đai; các Điều 158, 163, 166 của Bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 26, Điều 39, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C. Buộc anh Nguyễn Văn H trả lại cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C quyền sử dụng diện tích đất 41,4 m² là hình ABB1A1 nằm trong tổng diện tích 631,7m² tại thửa đất số 58, tờ bản đồ số 12, được Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là thị xã V) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD152054 ngày 29/02/2016 cho hộ ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M tại địa chỉ: Thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Có sơ đồ kèm theo bản án).
Buộc anh Nguyễn Văn H phải tháo dỡ bức tường 220mm, bổ trụ và sân trên diện tích 41,4m² đất tranh chấp nêu trên.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn H trả diện tích đất lâm nghiệp 42,8 m² là hình A1B1CD tại địa chỉ: Thôn K, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Có sơ đồ kèm theo bản án).
- Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C phải chịu 2.700.000 đồng chi phí xem xét thẩm tại chỗ và định giá tài sản. Anh Nguyễn Văn H phải chịu 29.300.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C được nhận lại tổng số tiền 29.300.000 đồng khi anh Nguyễn Văn H nộp.
- Về án phí:
- Án phí DSST: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C. Anh Nguyễn Văn H phải chịu 8.280.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí DSPT: Bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả anh Nguyễn Văn H 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0003271 ngày 08/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 150/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 150/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
