|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:150/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08/5/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng.
Ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 58/2024/QĐÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Ngô Mỹ H, sinh năm 2003. Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của chị Ngô Mỹ H: ông Ngô Trung T, sinh năm 1964 và bà Đặng Thị T1, sinh năm 1970 (là bố, mẹ đẻ của chị H). Có mặt.
- Đều đăng ký thường trú tại: Số nhà A phố L, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Ngô Mỹ H: ông Nguyễn Ngọc C – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994. Vắng mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn Đ: ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965 và bà Trần Thị X, sinh năm 1972 (là bố, mẹ đẻ của anh Đ). Bà X và ông Đ1 vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
- Đều đăng ký thường trú: đội 5, thôn Đ, xã X, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn Đ: ông Nguyễn Quang P – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn và người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Mỹ H và anh Nguyễn Văn Đ lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 04/01/2023 tại UBND xã X, huyện M, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính
cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không hợp nhau, bản thân hai vợ chồng đều bị khuyết tật về thần kinh nên thường xuyên cãi vã đánh chửi với nhau. Gia đình đã tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị Ngô Thị H1 là đối tượng khuyết tật nặng, dạng khuyết tật: trí tuệ, thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Chị H1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 9/2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H1 và người đại diện xác định tình cảm vợ chồng giữa chị H1 và anh Đ không còn nên đề nghi toà án giải quyết cho chị H1 và anh Đ được ly hôn.
- - Về con chung: Chị Ngô Mỹ H và anh Nguyễn Văn Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu D ở với chị H và ông bà ngoại. Nay ly hôn chị H và người đại diện của chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Mỹ H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn Đ và người đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Ngô Mỹ H lấy nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn như phía nguyên đơn đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp, bản thân hai vợ chồng đều bị khuyết tật về thần kinh nên thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau dẫn đến chị H và con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 9 năm 2023, vợ chồng sống ly thân. Anh Nguyễn Văn Đ là người khuyết tật tâm thần, thần kinh, là đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Nay tình cảm vợ chồng thực sự đã hết chị H có đơn xin ly hôn, anh Đ và người đại diện đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị H.
- - Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Ngô Mỹ H có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu D ở với chị H và ông bà ngoại. Nay ly hôn anh Đ và người đại diện đồng ý giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ và người đại diện xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Ngô Mỹ H là ông Nguyễn Ngọc C có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Mỹ H cho chị Ngô Mỹ H được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ. Vì chị H và anh Đồng đ là người khuyết tật thể trí tuệ thần kinh nên quá trình chung sống với nhau không hoà hợp dẫn đến mâu thuẫn và đánh cãi chửi nhau. Chị H và con đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 9/2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc và ghi nhận sự tự nguyện của chị H và người đại diện không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con do anh Đ là người khuyết tật nặng. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự xác nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn Đ là ông Nguyễn Quang P có quan điểm: Do chị Ngô Thị H1 và anh Nguyễn Văn Đồng đ1 là người khuyết tật quá trình chung sống đôi lúc có tranh luận bất hoà to tiếng
với nhau là điều không tránh khỏi. Mặc dù anh Đ và người đại diện của anh Đ có quan điểm đồng ý hôn với chị H1. Tuy nhiên, anh Đ là người khuyết tật, thu nhập chủ yếu là hưởng trợ cấp xã hội và cũng cố gắng lao động để vui vén cuộc sống, luôn trao đổi để tìm cách níu kéo hôn nhân khi chị H1 có đơn ly hôn. Đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn ly hôn của chị Ngô Mỹ H đối với anh Nguyễn Văn Đ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người đại của bị đơn chỉ chấp hành một phần quyền và nghĩa vụ của mình, người đại diện của bị đơn vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Mỹ H cho chị Ngô Mỹ H được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
- - Về con chung đề nghị: Áp dụng Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Giao con chung Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023 cho chị Ngô Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện chị H và người đại diện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- - Tài sản chung và nợ chung: Do đương sự xác nhận không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị H thuộc đối tượng được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Ngô Mỹ H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn Đ nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ có đăng ký thường trú tại: thôn Đ, xã X, huyện M, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do và người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người đại diện của bị đơn.
Về nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Ngô Mỹ H và anh Nguyễn Văn Đ được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện M vào ngày 04/01/2023 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị Ngô Mỹ H và anh Nguyễn Văn Đồng đ1 là đối tượng khuyết tật, hưởng trợ cấp xã hội, do đó khi
chung sống xử sự và giao tiếp với nhau không hòa thuận, đánh cãi, chửi nhau dẫn đến chị H và con đã bỏ về nhà mẹ đẻ, không quay trở lại nhà anh Đ nữa. Chị H và người đại diện có yêu cầu xin ly hôn với anh Đ thì anh Đ và người đại diện đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H, người đại diện và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, đề nghị bác đơn yêu cầu xin ly hôn của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ và không phù hợp với thực tế nên không được chấp nhận.
[2]. Về con chung: Chị Ngô Mỹ H và anh Nguyễn Văn Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023, con khoẻ mạnh. Cháu D hiện nay đang ở với chị H.
Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, Hội đồng xét xử thấy: Chị H và người đại diện có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Đức D, vì cháu hiện nay dưới 36 tháng tuổi và từ khi vợ chồng ly thân cháu D do chị và người đại diện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đ và người đại diện đồng ý giao cháu Nguyễn Đức D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét, đây cũng là sự tự nguyện của vợ chồng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức. Theo đó giao con Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có và không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Toà án chị Ngô Mỹ H là người khuyết tật nặng nên thuộc trường hợp miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Ngô Mỹ H đối với anh Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Xác nhận chị Ngô Mỹ H và anh Nguyễn Văn Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm đối với chị Ngô Mỹ H. Trả lại chị Ngô Mỹ H số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007725 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người đại diện của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử chị Ngô Mỹ H được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
Giao con chung Nguyễn Đức D, sinh ngày 05/8/2023 cho chị Ngô Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đ đến khi có quyết định thay đổi khác.
Sau khi ly hôn anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Cường |
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 150/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hà xin ly hôn anh Đồng