TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
Bản án số: 150/2024/HS-ST
Ngày: 04 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Hiền – Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, thành phố Hạ Long.
- Bà Phạm Thu Hà – Nguyên Phó trưởng phòng tổ chức cán bộ Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Quảng Ninh.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân TP Hạ Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đoàn Mạnh K; sinh ngày 18 tháng 7 năm 2005; tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ H, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Mạnh C và bà Phạm Thu H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo đầu thú và có quyết định tạm giữ ngày 21/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.
2. Đoàn Việt H1; sinh ngày 29 tháng 5 năm 2006; tại tỉnh Quảng Ninh (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 08 tháng 21 ngày); nơi cư trú: tổ C, khu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Việt C1 và bà Nguyễn Thị Thanh B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú và có quyết định tạm giữ ngày 21/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Việt H1: Ông Đoàn Việt C1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ C, khu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (là bố mẹ đẻ của bị cáo); có mặt
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ G, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ B, khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Chị Phạm Thu H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Mạnh K và Đoàn Việt H1 là bạn bè. Khoảng 14 giờ ngày 20/02/2024, khi đang ngồi uống nước tại khu vực B, phường C, thành phố H thì K nói với H1 “Hết tiền đổ xăng rồi, đi cướp giật không”, H1 đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát (BKS) 14X1-387.02 chở H1 ngồi sau đi dọc khu bờ mương H tìm xem có ai sơ hở thì cướp giật. Đến đoạn đường gần lối rẽ vào bệnh viện L thuộc tổ F, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, K nhìn thấy chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ G, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) đang quét rác ở lề đường, chị T để điện thoại di động (nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, màu tím than) thò ra ở túi áo khoác bên trái. K bảo Hoàng cướp giật chiếc điện thoại của chị T thì Hoàng sợ và không đồng ý. Lúc này, K nói “Giờ không lấy thì kiếm gì mà tiêu. Mày sợ thì lên lái để anh lấy cho”. H1 đồng ý lên trước điều khiển xe, K ngồi sau để thuận tiện cho việc giật tài sản của chị T. H1 lái xe đi từ phía sau, áp sát chị T để K giật điện thoại nhưng đến gần thì chị T quay hướng khác nên không giật được. H1 đi qua và tiếp tục vòng lại khoảng 3, 4 lần, đến lần vòng xe cuối thì H1 áp sát xe về phía bên trái chị T, K nhoài người ra giật được chiếc điện thoại di động trong túi áo bên trái của chị T. K giục H1 bỏ chạy, H1 tăng ga chạy về phía H, đi qua cây xăng C2. Đến khu dân cư, K bảo dừng xe lại để K lên lái. Sau đó, K điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại di động Tiến Dũng tại số B đường C, bán điện thoại cho anh Nguyễn Văn D (sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ B, khu I, phường H, thành phố H) được 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng). Số tiền này, K và H1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 21/02/2024, K và H1 ra đầu thú tại Công an thành phố H. K tự nguyện giao nộp 01 (một) áo khoác màu xám trắng, phần lưng có chữ STUDIO STAND UP FOR LMTS WHAT IS RIGHT, kích thước (65x47)cm và 01 (một) quần dài màu đen, có sọc kẻ trắng, phần ống quần có chữ ADIDAS, kích thước (113x12)cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, BKS 14X1-387.02. H1 tự nguyện giao nộp 01 áo khoác, màu đen, cổ và tay áo có kẻ sọc trắng, lưng áo có chữ THE BAD GOD, kích thước (66x45)cm và 01 quần vải thể thao không rõ nhãn hiệu, màu đen.
Quá trình điều tra, K và H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được. Ngoài ra, K còn khai chiếc xe mô tô Honda Wave 14X1-387.02 là của chị Phạm Thu H (mẹ đẻ của K). Chị H không biết K lấy xe để đi cướp giật tài sản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành làm việc với Ủy ban nhân dân thành phố H, Ủy ban nhân dân phường C, Công an phường C và đại diện tổ dân phố F, khu F, phường C để đánh giá về tính chất hành vi cướp giật của K và H1 trên địa bàn, kết quả: việc các bị cáo thực hiện hành vi cướp giật gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội và các hoạt động khác tại khu vực tổ F, khu F, phường C, thành phố H.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KLĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, màu tím than, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 356525683090654, số IMEI 2: 359001163090652, mua mới tháng 5/2021 có giá trị 1.898.000 đồng (Bằng chữ: một triệu tám trăm chín mươi tám nghìn đồng), tại thời điểm định giá.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A02S, màu tím than cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị T; trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 14X1-387.02 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Thu H.
Bản Cáo trạng số: 1593 /CT-VKSHL ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo Đoàn Mạnh K và Đoàn Việt H1 bị về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, h khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại chị Nguyễn Thị T trình bày: vào khoảng 15 giờ ngày 20/02/2024, khi chị đang gom rác thải tại lề đường thuộc khu vực tổ F, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì có hai nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, áp sát chị và người thanh niên ngồi sau giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, màu tím than của chị đang để ở túi áo khoác bên trái. Sau đó phóng xe bỏ chạy, chị chạy bộ đuổi theo hô hoán nhưng không kịp. Chị đã trình báo cơ quan công an về sự việc. Vì sự việc diễn ra rất nhanh nên chị T không nhận dạng được hai người thanh niên đó. Sau này, chị được biết hai đối tượng cướp giật điện thoại của chị là Đoàn Mạnh K và Đoàn Việt H1. Hiện nay, chị T đã được cơ quan công an trả lại điện thoại và chị cũng không bị thiệt hại tài sản gì khác nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, anh Nguyễn Văn D có lời khai tại quá trình điều tra cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo về việc các bị cáo Đoàn Văn K1, Đoàn Việt H1 có liên lạc bán cho anh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, màu tím than đã qua sử dụng với giá 500.000 đồng. Khi mua điện thoại anh không biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Số tiền này anh D đã thanh toán bằng tiền mặt cho hai bị cáo. Anh D1 đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại cho cơ quan điều tra để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Đối với số tiền trên, anh D1 có quan điểm không yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho anh. Việc không yêu cầu các bị cáo trả lại tiền là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Người làm chứng chị Phạm Thu H có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: chị là mẹ đẻ của bị cáo Đoàn Mạnh K là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, bạc, BKS 14X1-387.02. Ngày 20/02/2024, chị để chiếc xe này ở nhà thì Đoàn Mạnh K đã tự ý lấy xe để đi. Chị H khẳng định không giao xe cho bị cáo K và cũng không biết bị cáo đã dùng xe mô tô của chị đi cướp giật tài sản. Hiện nay, chị đã được cơ quan Công an trả lại chiếc xe mô tô trên.
Tại phiên tòa:
Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh K từ 48 (bốn mươi tám) tháng tù đến 54 (năm mươi bốn) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2024.
- + Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Việt H1 từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2024;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo;
- + Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo khoác màu trắng, 01 (một) quần dài màu đen, 01 áo khoác, màu đen, 01 quần vải thể thao không rõ nhãn hiệu, màu đen.
Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Việt H1 có quan điểm: Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H1 chưa đủ 18 tuổi nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng, không có oan sai gì; các bị cáo không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của hai bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm hoà nhập cộng đồng, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn K1 và Đoàn Việt H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. K1 khai do cần tiền tiêu nảy sinh ý định cướp giật tài sản, K1 rủ H1 và được H1 đồng ý nên hai bị cáo đã điều khiển xe mô tô thực hiện hành vi cướp giật tài sản như nội dung vụ án nêu trên. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; phù hợp với vật chứng thu giữ, các tài liệu về hiện trường, kết luận định giá tái sản, Biên bản làm việc về nội dung rà soát camera và trích xuất dữ liệu camera cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 15 giờ ngày 20/02/2024, tại tổ F, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Mạnh Koàn Việt H1 hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc, biển kiểm soát 14X1-387.02 cướp giật 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S của chị Nguyễn Thị T giá 1.898.000 đồng (Một triệu tám trăm chín mươi tám nghìn đồng), rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, như cáo trạng đã nêu là có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thấy: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Giữa nơi công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng bất chấp hậu quả xảy ra. Các bị cáo đã dùng phương tiện phạm tội là xe mô tô, đây là nguồn nguy hiểm cao độ bởi có thể dẫn đến tai nạn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của người khác và chính bản thân các bị cáo. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo Đoàn Mạnh Kai trò chính trong vụ án, bị cáo Đoàn Việt H1i trò thấp hơn. Đoàn Mạnh Kgười trưởng thành nhận thức được hành vi cướp giật tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác là trái pháp luật, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định phạm tội và rủ rê, xúi giục bị cáo H1ười dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với bị cáo Đoàn Việt H1đời còn trẻ, nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện mình, và muốn có tiền ăn tiêu đã đồng ý cùng K hiện tội phạm. Vì vạy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của mỗi bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Đoàn Việt H1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo Đoàn Mạnh Kgiục người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Đoàn Việt H1hạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, để cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cao nhất không quá 3/4 với mức phạt tù mà điều luật quy định.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo Đoàn Mạnh K tội khi còn là học sinh, không có thu nhập, không xác định được bị cáo có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Bị cáo Đoàn Việt H1hạm tội là người dưới 18 tuổi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, tài sản của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A02S, màu tím than, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị T. Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Tng có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác nên không xem xét xử lý.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn Dng yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền 500.000 đồng anh đã trả cho bị cáo khi giao dịch mua bán điện thoại, anh không còn đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 14X1-387.02 cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Phạm Thu Hhông xem xét xử lý.
- Đối với: 01 (một) áo khoác màu xám trắng, phần lưng có chữ STUDIO STAND UP FOR LMTS WHAT IS RIGHT; 01 (một) quần dài màu đen, có sọc kẻ trắng, phần ống quần có chữ ADIDAS; 01 áo khoác, màu đen, cổ và tay áo có kẻ sọc trắng, lưng áo có chữ THE BAD GOD và 01 quần vải thể thao không rõ nhãn hiệu, màu đen, đã qua sử dụng của hai bị cáo, bị cáo không đề nghị nhận lại. Xét thấy đây là vật không có giá trị, không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Các vấn đề khác: Đối với việc anh Nguyễn Văn Dlại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A02S nhưng không biết nguồn gốc tài sản là do K1tội mà có nên không đề cập.
Chị Phạm Thu Hủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, bạc, BKS 14X1-387.02, quá trình điều tra và tại phiên toà xác định chị H giao xe cho bị cáo K gia giao thông cũng như để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở để xử lý.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Đoàn Mạnh K, Đoàn Việt H1chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Việt H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh K bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2024.
Căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đoàn Việt H1 ba mươi ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2024.
Về xử lý vật chứng, tài sản:
Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo khoác màu trắng, phần lưng có chữ STUDIO STAND UP FOR LMTS WHAT IS RIGHT, kích thước (65x47)cm; 01 (một) quần dài màu đen, có sọc kẻ trắng, phần ống quần có chữ ADIDAS, kích thước (113x12)cm; 01 áo khoác, màu đen, cổ và tay áo có kẻ sọc trắng, lưng áo có chữ THE BAD GOD, kích thước (66x45)cm; 01 (một) quần vải thể thao không rõ nhãn hiêu, màu đen, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 207/BB-THA ngày 10/6/2024 giữa Công an thành phố H hi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đoàn Mạnh K, Đoàn Việt H1 bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Việt H1 quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dến vụ án; đại diện hợp pháp của bị cáo. - Viện kiểm sát NDTP Hạ Long, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hạ Long; Cơ quan THAHS công an TP Hạ Long - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; TAND tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS TP Hạ Long; - Sở tư pháp - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Phạm Thị Hiền – Phạm Thu Hà | Lê Thị Thu |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo K, H cướp giật tài sản
