TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST Ngày 02 - 5 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Triều
- Bà Lê Thị Bích Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1889/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1992
Hộ chiếu số Q00228468 do L1 tại N cấp ngày 01/02/2023
Địa chỉ: 6500 S 34th ST R, USA.
Bị đơn: Ông Vũ Trần Tùng L, sinh năm 1983
Địa chỉ: 1 G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn – bà Trần Thị D thì: Bà và bị đơn kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2022 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/3/2022. Sau khi kết hôn, hai người chung sống với nhau một thời gian ngắn sau đó bị đơn qua Hoa Kỳ để sinh sống. Đến hết năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, khoảng cách địa lý nên hai người không quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nên dần cuộc sống ngày càng tẻ nhạt dẫn đến không còn liên lạc với nhau nữa và đã ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.
Bản tự khai ngày 09/4/2024, ông Vũ Trần Tùng L trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà D về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông đồng ý ly hôn với bà Trần Thị D. Đồng thời ông đề nghị Tòa án xét xử văng mặt ông.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Bà Trần Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Vũ Trần Tùng L, bà Trần Thị D đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn – bà Trần Thị D và bị đơn - ông Vũ Trần Tùng L có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị D và ông Vũ Trần Tùng L.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Về hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2022 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/3/2022 thì giữa bà Trần Thị D và ông Vũ Trần Tùng L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của bà Trần Thị D sau khi kết hôn thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trần Thị D yêu cầu ly hôn ông Vũ Trần Tùng L. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng thống nhất về nguyên nhân mau thuẫn củ vợ chồng và xác định cả hai không còn quan tâm và thương yêu nhau nên đồng ý ly hôn, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
[3] Từ những nhận định trên, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị D.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Trần Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà Trần Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 19 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D .
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị D được ly hôn ông Vũ Trần Tùng L.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0002380 ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – Bà Trần Thị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn – ông Vũ Trần Tùng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Anh |
4
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 150/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH
