Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 150/2025/HSST

Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NΑΙ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và ông Tạ Văn Đài.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2025/QĐXXST-HS ngày 02/6/2025 đối với bị cáo:

Phan Thanh T (Tên gọi khác: B) sinh năm 1999 tại: Long An; Căn cước công dân số: [...]. Giới tính: Nam. HKTT: Tổ 8, khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Phật. Con ông: Phan Thanh D và bà Nguyễn Thị H (đã chết). Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/10/2024. (Có mặt)

- Bị hại: Công ty TNHH T5.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thiện Thanh T1 – chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ trụ sở: Số A, đường B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Phương N, sinh năm 1984.

Địa chỉ: I, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (văn bản ủy quyền ngày 14/10/2024) (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

  • + Ông Đinh Tuấn H1, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
  • + Bà Đồng Thị Thu H2, sinh năm 1976. (Vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 2000. (Vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Trương Ngọc K, sinh năm 1999. (Vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Đông D1, sinh năm 2007. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Nội dung chính:
  2. Công ty TNHH T5 (gọi tắt là Công ty T5) địa chỉ trụ sở chính: 1477 đường B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: K1/46, khu phố B, B, B, Đồng Nai), được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số: 3601946862, người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Nguyễn Thiện Thanh T1, sinh năm 1979, nơi thường trú: 203A/1, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là giám đốc của công ty. Công ty T5 có nhiều địa điểm kinh doanh, trong đó có Trạm xăng dầu Nai Vàng tại địa chỉ: tỉnh lộ 767, ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh số: 00002 ngày 26/05/2021.

    Ngày 06/02/2024, Phan Thanh T được Công ty T5 ký hợp đồng thử việc với thời gian thử việc từ ngày 06/02/2024 đến 06/3/2024, nhiệm vụ là nhân viên phụ trách bán hàng (xăng dầu). Theo hợp đồng, T bắt đầu làm việc từ ngày 06/02/2024, có nhiệm vụ bán hàng, trực tiếp thu tiền từ khách hàng, quản lý tiền hàng và giao nộp lại cho công ty. Trước khi vào làm việc, T đã được Công ty T5 phổ biến, hướng dẫn nhiệm vụ, quy trình thực hiện nhiệm vụ và học nội quy làm việc tại công ty. Thời gian làm việc tại Trạm xăng từ 05 giờ 30 phút đến 21 giờ hằng ngày, chia thành 05 ca: từ 05 giờ 30 đến 09 giờ; từ 09 giờ đến 12 giờ; từ 12 giờ đến 15 giờ; từ 15 giờ đến 19 giờ; từ 19 giờ đến 21 giờ, ngay sau khi hết ca bán hàng thì nhân viên bán hàng phải nộp tiền bán hàng về cho thủ quỹ công ty. Từ thứ 2 đến thứ 6 và sáng thứ 7, trước 09 giờ và trước 15 giờ hằng ngày thủ quỹ có nhiệm vụ nộp tiền bán hàng vào tài khoản ngân hàng của Công ty T5; chiều thứ 7 và chủ nhật hằng tuần ông Nguyễn Thiện Thanh T1 sẽ đến thu tiền bán hàng trực tiếp tại Trạm xăng dầu N.

    Ngày 18/02/2024, Phan Thanh T bán hàng tại trụ bơm xăng X1, ca từ 15 giờ đến 19 giờ và từ 19 giờ đến 21 giờ. Chỉ số trụ bơm X1 khi T tiếp nhận ca lúc 15 giờ là 581.969 lít (Năm trăm tám mươi mốt ngàn chín trăm sáu mươi chín lít), chỉ số trụ bơm X1 khi kết thúc ca lúc 21 giờ là 582.605 lít (Năm trăm tám mươi hai ngàn sáu trăm lẻ năm lít), số lượng xăng T đã bán được là 636 lít (Sáu trăm ba mươi sáu lít), đơn giá bán hàng là 23.910 đồng/lít (Hai mươi ba ngàn chín trăm mười đồng), tổng số tiền bán hàng T thu được là 15.206.760 đồng, tuy nhiên thực tế T thu tiền của khách hàng là 15.206.000 đồng, còn số tiền 760 đồng (bảy trăm sáu mươi đồng) là sai số của đồng hồ điện tử trên trụ bơm xăng dầu. Kết thúc ca bán hàng lúc 21 giờ, T đã nộp về cho Thủ quỹ của Trạm xăng dầu Nai V là anh Đinh Tuấn H1, số tiền 6.564.000 đồng, khách hàng chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản Công ty T5 850.000 đồng. Còn lại 7.792.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm chín mươi hai ngàn đồng), T chiếm đoạt của công ty T5 để sử dụng tiêu xài cá nhân, cụ thể: T đã đưa tiền mặt và nhờ chị Nguyễn Vân H3 chuyển 3.800.000 đồng và anh Nguyễn Văn T3 chuyển 3.000.000 đồng, tổng cộng 6.800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Q (M) số 77668686868688 của T. Sau đó, T sử dụng tài khoản ngân hàng trên chuyển khoản tổng số tiền 5.688.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng T6 số 19038480837019 của Nguyễn Đinh Kiều N1, sinh năm 1996, nơi thường trú: tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để đầu tư chứng khoán và thua lỗ hết số tiền trên. Số tiền còn lại là 2.104.000 đồng (gồm 1.112.000 đồng trong tài khoản và 992.000 đồng tiền mặt), T đã tiêu xài cá nhân hết nên không có tiền nộp lại cho công ty T5. Tuy nhiên, T báo cáo với công ty T5 là quá trình đi ăn cơm đã làm rơi hết số tiền trên và xin khắc phục cho công ty S, thì đại diện công ty T5 là anh Nguyễn Đông D1 đồng ý và phân công nhiệm vụ cho T là phụ giúp các nhân viên khác bán hàng (bán kèm cùng trụ bơm với nhân viên khác), bấm số trên trụ bơm theo số tiền khách mua, bơm xăng dầu vào xe cho khách, nhận tiền khách hàng rồi đưa lại cho nhân viên phụ trách trụ bơm, cụ thể là anh Đinh Tuấn H1 - Thủ quỹ Trạm xăng.

    Ngày 23/02/2024, T phụ anh Đinh Tuấn H1 bán hàng tại trụ bơm xăng X2 từ 05 giờ đến 09 giờ và đã giao lại tiền bán hàng cho anh H1 đầy đủ. Đến ca bán hàng từ 09 giờ đến 12 giờ, T phụ anh H1 bán hàng tại 03 trụ gồm: trụ bơm xăng X2, trụ bơm dầu D1 và D2. Do vào lúc 09 giờ anh Đinh Tuấn H1 phải đi nộp tiền bán hàng vào tài khoản ngân hàng của Công ty T5 nên T bán hàng một mình tại 03 trụ X1, D1 và D2. Chỉ số trụ X2 khi T tiếp nhận là 684.844 lít (Sáu trăm tám mươi bốn ngàn tám trăm bốn mươi bốn lít), kết thúc ca là 685.127 lít (Sáu trăm tám mươi lăm ngàn một trăm hai mươi bảy lít), tổng số lượng xăng T bán được là 283 lít (Hai trăm tám mươi ba lít), đơn giá 23.590 đồng/lít (Hai mươi ba ngàn năm trăm chín mươi đồng), số tiền bán xăng T thu được là 6.675.970 đồng. Chỉ số trụ D1 khi T tiếp nhận là 367.901 lít (Ba trăm sáu mươi bảy ngàn chín trăm lẻ một lít), kết thúc ca là 368.212 lít (Ba trăm sáu mươi tám ngàn hai trăm mười hai lít), tổng số lượng dầu T bán được là 311 lít (Ba trăm mười một lít), đơn giá 20.910 đồng/lít (Hai mươi ngàn chín trăm mười đồng), số tiền bán dầu T thu được là 6.503.010 đồng . Chỉ số trụ bơm D2 khi T tiếp nhận là 377.420 lít (Ba trăm bảy mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi lít), kết thúc ca 377.674 lít (Ba trăm bảy mươi bảy ngàn sáu trăm bảy mươi bốn lít), tổng số lượng dầu T đã bán là 254 lít (Hai trăm năm mươi bốn lít), đơn giá 20.910 đồng/lít (Hai mươi ngàn chín trăm mười đồng), số tiền bán hàng T thu được là 5.311.140 đồng. Tổng số tiền bán hàng ở 03 trụ trên T thu được là 18.490.120 đồng, tuy nhiên thực tế T thu tiền của khách hàng là 18.490.000 đồng, còn số tiền 120 đồng là sai số của đồng hồ điện tử trên trụ bơm xăng dầu. Khách hàng chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản của Công ty T5 là 1.050.000 đồng, T giao lại cho anh H1 số tiền là 4.728.000. Số tiền còn lại là 12.712.000 thì T đưa tiền mặt và nhờ bà Trần Thị N2 chuyển 4.000.000 đồng và nhờ bà Đồng Thị Thu H2 chuyển số tiền 8.700.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Q (M) số 77668686868688 của T với tổng số tiền là 12.700.000 đồng. Sau đó T chuyển khoản số tiền 12.700.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của T vào tài khoản ngân hàng V1 (V2) số 93927079 của Hà Văn T4, sinh năm 1996, nơi thường trú: thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk 07 lần với tổng số tiền 12.696.000 đồng để đầu tư chứng khoán sinh lời. Kết thúc ca làm việc ngày 23/02/2024, T nộp lại cho công ty T5 450.000 đồng. Còn số tiền 12.262.000 đồng, T chiếm đoạt của công ty T5 và sử dụng đầu tư chứng khoán bị thua lỗ hết nên không có tiền trả lại công ty. (Bút lục 72-110; 117-136; 140-273). Tổng số tiền mà T đã chiếm đoạt của công ty T5 vào ngày 18/02/2024 và 23/02/2024 là 20.054.000 đồng. Sau đó, công ty T5 đã nhiều lần làm việc và yêu cầu Phan Thanh T nộp trả lại công ty số tiền trên nhưng T không thực hiện nên ngày 10/5/2024, công ty T5 đã tố giác hành vi nêu trên của T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để xử lý theo quy định pháp luật.

    Ngày 27/9/2024, Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phan Thanh T về tội “Tham ô tài sản” để điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

  3. Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
  4. 01 cuốn sổ quỹ tiền mặt; 01 cuốn sổ bàn giao ca bán hàng; 02 cuốn sổ phiếu thu (ghi nhận số tiền Thủ quỹ Trạm xăng dầu Nai Vàng thu của nhân viên bán hàng) là tài liệu, sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty T5 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty T5 là phù hợp.

  5. Về trách nhiệm dân sự:
  6. Quá trình điều tra, T đã tự nguyện dùng số tiền lương chưa nhận tại Công ty T5 là 7.053.940 đồng và tác động gia đình trả lại cho Công ty T5 số tiền 13.000.000 đồng với tổng số tiền là 20.053.940 đồng để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Công ty T5 đã nhận tiền và không có yêu cầu gì khác về dân sự đồng thời có văn bản bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đối với T. (Bút lục số 145).

  7. Cáo trạng truy tố:
  8. 4.1. Tại bản cáo trạng số: 114/CT-VKS-HS ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Phan Thanh T về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

    4.2. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phan Thanh T. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phan Thanh T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Tố tụng:
  2. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

  3. Về tội danh:
  4. Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Phan Thanh T là nhân viên làm việc theo hợp đồng thử việc từ ngày 06/02/2024 đến ngày 06/3/2024 tại Trạm kinh doanh xăng dầu Nai Vàng thuộc công ty TNHH T5 do ông Nguyễn Thiện Thanh T1 là người đại diện theo pháp luật. T được giao nhiệm vụ làm nhân viên bán hàng (xăng, dầu), trực tiếp thu tiền từ khách hàng và quản lý tiền hàng rồi nộp lại cho công ty. Trong quá trình làm việc tại công ty T5, T đã lợi dụng quyền hạn của mình chiếm đoạt tiền bán hàng của công ty T5 02 lần, cụ thể: Ngày 18/02/2024, T chiếm đoạt 7.792.000 đồng và ngày 23/02/2024, T chiếm đoạt 12.262.000 đồng tiền bán hàng của công ty T5. Tổng số tiền T chiếm đoạt của công ty T5 là 20.054.000 đồng. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của Phan Thanh T đã phạm vào tội “Tham ô tài sản”, với tình tiết định khung “Phạm tội nhiều lần” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  5. Về trách nhiệm hình sự:
    • [3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
    • [3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
  6. Về hình phạt:
  7. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

  8. Về dân sự:
  9. Đã được giải quyết, tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  10. Về xử lý vật chứng:
  11. 01 cuốn sổ quỹ tiền mặt; 01 cuốn sổ bàn giao ca bán hàng; 02 cuốn sổ phiếu thu (ghi nhận số tiền thủ quỹ Trạm xăng dầu Nai Vàng thu của nhân viên bán hàng) là tài liệu, sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty T5 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty T5 là phù hợp.

  12. Về án phí:
  13. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2027)
    • + Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T (Tên gọi khác: B) phạm tội “Tham ô tài sản".
    • + Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh T (Tên gọi khác: Bé) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - CQCS điều tra CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Bộ phận T.H.A hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2025/HSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI về tham ô tài sản

  • Số bản án: 150/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh t phạm tội "Tham ô tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger