Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2025/HS - ST

Ngày: 30/05/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Nguyễn Việt Anh
2. Bà Tạ Thị Thà
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Minh Anh
- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai
Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST - HS ngày 21/04/2025; quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/HSST- QĐ ngày 14/5/2025 đối với bị cáo:

Lê Duy C; Sinh năm: 1993; HKTT: P804 N P - T, phường H, quận H, Hà Nội; Nơi ở: P N P - T, phường H, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề Nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Đảng phái: Không; Con ông: Lê Duy C1 (đã chết); con bà: Cao Ngọc D sinh năm 1966; Gia đình không có anh chị em ruột, bị can là con một; Vợ: Dương Mai P sinh năm 1995; Có 01 con sinh năm 2020; Danh, chỉ bản số 83 lập ngày 08/1/2025 tại Công an quận H; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2024 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

*. Bị hại :

  1. Chị Cao Thị Thu H ; sinh năm 1974
    Trú tại: sảnh B khu N, phường X, quận B, thành phố Hà Nội (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  2. Chị Nguyễn Tú H1 ; sinh năm 1991
    Trú tại: Số A ngõ A T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Chị Hồ Thị H2 ; sinh năm 1988
    Trú tại: M, số B N, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  4. Chị Lê Thị P1 ; sinh năm 1983
    Trú tại: P422 N tổ B KĐT P-T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  5. Chị Đinh Thị Thu T ; sinh năm 1982
    Trú tại: Số 1 ngõ F N, quận L, thành phố Hà Nội.
    (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  6. Chị Đoàn Thị Bích H3 ; sinh năm 1978
    Trú tại: Lô D, KĐT V, phường G, quận L, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  7. Chị Nguyễn Thị Như T1, sinh năm 1983
    Trú tại: Tổ H V, quận L, thành phố Hà Nội.
    (Xin vắng mặt tại phiên tòa)
  8. Chị Trần Hương T2, sinh năm 1987
    Trú tại: P2410 toà E1 CT8 M, quận N, thành phố Hà Nội.
    (Xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Duy C đã từng làm qua công việc giao hàng cho khách đặt mua online trên mạng xã hội, C hiểu rõ cách thức giao hàng và thanh toán. Khoảng tháng 04/2024, C nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của khách hàng thông qua việc giả danh là nhân viên giao hàng để gọi điện, nhắn tin cho các khách hàng yêu cầu chuyển tiền mua hàng, thực tế không giao hàng, C sử dụng laptop lên mạng internet vào các bài viết quảng cáo bán hàng, livestream bán hàng của các cửa hàng trên mạng xã hội Facebook rồi sử dụng phần mềm "Get C2 Facebook" để tổng hợp các bình luận và thông tin tài khoản facebook của khách mua hàng trên các trang mạng, sau đó C sử dụng "APP FBNumber" để tìm kiếm số điện thoại của khách hàng. C sử dụng các sim không chính chủ gọi điện, nhắn tin cho khách hàng tự xưng là nhân viên giao hàng và yêu cầu khách hàng chuyển khoản vào tài khoản của C để chiếm đoạt.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định trong khoảng thời gian từ ngày 10/06/2024 đến ngày 25/12/2024, Lê Duy C thực hiện nhiều vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

  • Vụ thứ nhất: Ngày 10/6/2024, Lê Duy C dùng số điện thoại 0901.757.xxx gọi cho chị Cao Thị Thu H (SN: 1974, HKTT: sảnh B tòa nhà N01T01, khu N đoàn, X, B, Hà Nội) tự xưng là nhân viên giao hàng thông báo chị H có 01 đơn hàng. Do chị H không có nhà nên C nói là gửi dưới sảnh bảo vệ thực tế C không gửi, sau đó C yêu cầu chị H chuyển khoản vào số tài khoản 20773365333888, ngân hàng A mang tên TA NGỌC DANH số tiền 3.170.000 đồng. Do tin tưởng nên chị H đã chuyển số tiền trên cho C.
  • Vụ thứ hai: Cũng với thủ đoạn như trên, ngày 18/11/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Tú H1 (SN: 1991; HKTT: số A ngõ A T, M, H, Hà Nội) số tiền 2.230.000 đồng. Chuyển vào tài khoản số [...] mang tên PHAN QUOC CONG, ngân hàng V.
  • Vụ thứ ba: Ngày 21/11/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị Hồ Thị H2 (SN: 1988; địa chỉ: M, số B N, M, N, Hà Nội) số tiền 1.380.000 đồng. Chuyển vào tài khoản số [...] mang tên PHAN QUOC CONG, ngân hàng V.
  • Vụ thứ tư: Ngày 30/11/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị Lê Thị P1 (SN: 1983, địa chỉ: P N tổ B KĐT P-T, H, H, Hà Nội) số tiền 2.680.000đồng. Chuyển vào tài khoản số 0932378465 mang tên T3, ngân hàng B.
  • Vụ thứ năm: Ngày 18/12/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị Đinh Thị Thu T (SN: 1982, địa chỉ: Số 1 ngõ F N, L, Hà Nội) số tiền 1.190.000 đồng. Chuyển vào tài khoản số [...] mang tên PHAN QUOC CONG, ngân hàng V.
  • Vụ thứ sáu: Ngày 19/12/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị Đoàn Thị Bích H3 (SN: 1978, địa chỉ: Lô D, KĐT V, G, L, Hà Nội) số tiên 5.219.000 đồng. Chuyển vào tài khoản số [...] mang tên PHAN QUOC CONG, ngân hàng V.
  • Vụ thứ bảy: Ngày 25/12/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Như T1 (SN: 1983, HKTT: Tổ 8 V, L, Hà Nội) số tiền 2.550.000 đồng. Chuyển vào tài khoản số [...] mang tên PHAN QUOC CONG, ngân hàng V.
  • Vụ thứ tám: Ngày 25/12/2024, Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt của chị: Trần Hương T2 (SN: 1987, địa chỉ: P, tòa E, CT8 M, N, Hà Nội) số tiên: 1.280.000 đồng. Chuyển vào tài khoản số [...] mang tên PHAN QUOC CONG, ngân hàng V.

Sau khi nhận tiền chuyển khoản của các bị hại, Lê Duy C chuyển khoản sang tài khoản ngân hàng số 37101015551771 mang tên LO VAN TANG, Ngân hàng TMCP H4. Từ tài khoản này, C tiếp tục chuyển tiên đến số tài khoản 19037525419012 của mình mang tên LE DUY CHIEN, Ngân hàng T4. Số tiền này C đã chi tiêu, sử dụng cá nhân hết. Tổng số tiền Lê Duy C lừa đảo chiếm đoạt là: 19.699.000 đồng.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu vàng, số imei: 359811267284088;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số imei: 35381608269959;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đỏ, imei 1: 865222048269397, imei 2: 865222048269389;
  • 01 Laptop nhãn hiệu MSI màu đen có kí hiệu: MS-16R4.

Tại cơ quan điều tra, Lê Duy C khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tại Cơ quan điều tra, chị Cao Thị Thu H, chị Nguyễn Tú H1, chị Hồ Thị H2, chị Lê Thị P1, chị Đinh Thị Thu T, chị Đoàn Thị Bích H3, chị Nguyễn Thị Như T1, chị Trần Hương T2 (người bị hại) khai nội dung vụ việc như trên, do tin tưởng Lê Duy C là nhân viên giao hàng và đã giao hàng cho người nhà mình nên các bị hại đã chuyển tiền cho C. Các bị hại cung cấp nội dung tin nhắn trao đổi, chuyển khoản tiền cho C phù hợp với lời khai của C. Chị H, chị H1, chị H2, chị P1, chị T, chị H3, chị T1, chị T2 yêu cầu Lê Duy C hoàn trả số tiền Chiến đã chiếm đoạt.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm chị Cao Thị Thu H, Nguyễn Tú H1, Hồ Thị H2, Lê Thị P1, Đinh Thị Thu T, Đoàn Thị Bích H3, Nguyễn Thị Như T1 và Trần Hương T2 đề nghị được bồi thường. Hiện Lê Duy C chưa bồi thường cho các bị hại.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đỏ và 01 Laptop nhãn hiệu MSI màu đen, thu giữ của Lê Duy C, là tài sản cá nhân của C, C sử dụng các tài sản trên để trao đổi, liên lạc với các bị hại để chiếm đoạt tài sản. Qua kiểm tra nội dung tin nhắn trong điện thoại thu giữ của C có các nội dung Chiến nhắn tin, trao đổi và gửi số tài khoản ngân hàng cho bị hại chuyển tiền.

Quá trình điều tra, xác định các tài khoản C yêu cầu bị hại chuyển tiền đều là tài khoản ngân hàng của C mua trên mạng xã hội, hiện đã bị khóa do ngân hàng yêu cầu C nhập mã xác nhận gửi đến số điện thoại đăng ký tài khoản nhưng C không nhập được. Cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan đến nội dung trên để xác minh làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra: bị can Lê Duy C khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 125/CT - VKSHM ngày 10/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Lê Duy Chiến về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

  • * Bị cáo Lê Duy C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo là đúng, không oan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm g khoản 1 điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo mức án từ 08 đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm chị Cao Thị Thu H, Nguyễn Tú H1, Hồ Thị H2, Lê Thị P1, Đinh Thị Thu T, Đoàn Thị Bích H3, Nguyễn Thị Như T1 và Trần Hương T2 đã nhận được tiền bồi thường, không có đề nghị gì khác.

Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đỏ và 01 Laptop nhãn hiệu MSI màu đen, thu giữ của Lê Duy C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 10/06/2024 đến ngày 25/12/2024, Lê Duy C đăng nhập vào mạng internet để vào các bài viết quảng cáo bán hàng, livestream bán hàng của các cửa hàng trên mạng xã hội Facebook rồi sử dụng phần mềm "Get C2 Facebook" để tổng hợp các bình luận và thông tin tài khoản facebook của khách mua hàng trên các trang mạng, sau đó C sử dụng "APP FBNumber" để tìm kiếm số điện thoại của khách hàng, sau đó giả mạo là nhân viên giao hàng gọi điện, nhắn tin cho 08 người bị hại gồm: chị Cao Thị Thu H, chị Nguyễn Tú H1, chị Hồ Thị H2, chị Lê Thị P1, chị Đinh Thị Thu T, chị Đoàn Thị Bích H3, chị Nguyễn Thị Như T1 và chị Trần Hương T2, yêu cầu chuyển khoản tiền mua hàng, thực tế không giao hàng, đã chiếm đoạt tổng số tiền là 19.699.000 đồng. Cụ thể là : Ngày 10/6/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Cao Thị Thu H số tiền: 3.170.000 đồng; Ngày 18/11/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Tú H1 số tiền : 2.230.000 đồng ; Ngày 21/11/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Hồ Thị H2 số tiền : 1.380.000 đồng ; Ngày 30/11/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Lê Thị P1 số tiền : 2.680.000 đồng; Ngày 18/12/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Đinh Thị Thu T số tiền : 1.190.000 đồng ; Ngày 19/12/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Đoàn Thị Bích Hằng S tiền : 5.219.000 đồng; Ngày 25/12/2024, bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Như T1 số tiền : 2.550.000 đồng; bị cáo chiếm đoạt của chị Trần Hương T2 số tiền : 1.280.000 đồng. Vì Vậy, Lê Duy C đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân, do đó cần thiết phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đủ giáo dục cho bị cáo.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu nhưng bị cáo phạm tội liên tục trong thời gian ngắn nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 (phạm tội từ 02 lần trở lên). Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ cho người bị hại theo yêu cầu của bị cáo, những người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên cần giảm cho bị cáo một hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về phần dân sự và các vấn đề khác: Gia đình bị cáo đã thay mặt bị cáo bồi thường cho chị Cao Thị Thu H số tiền : 3.170.000 đồng; chị Nguyễn Tú H1 số tiền : 2.230.000 đồng; chị Hồ Thị H2 số tiền : 1.380.000 đồng; Chị Lê Thị P1 số tiền : 2.680.000 đồng ; chị Đinh Thị Thu T số tiền : 1.190.000 đồng ; chị Đoàn Thị Bích Hằng S tiền : 5.219.000 đồng; chị Nguyễn Thị Như T1 số tiền : 2.550.000 đồng ; chị Trần Hương T2 số tiền : 1.280.000 đồng. Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu nào khác nên không xem xét.

Về vật chứng : Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đỏ và 01 Laptop nhãn hiệu MSI màu đen tịch thu sung công do liên quan đến hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra, xác định các tài khoản C yêu cầu bị hại chuyển tiền đều là tài khoản ngân hàng của C mua trên mạng xã hội, hiện đã bị khóa do ngân hàng yêu cầu C nhập mã xác nhận gửi đến số điện thoại đăng ký tài khoản nhưng C không nhập được. Cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan đến nội dung trên để xác minh làm rõ xử lý sau, nên tòa án không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 174 ; điểm g khoản 1 điều 52 ; điểm b, s khoản 1 Điều 51 ; điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ: điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục án phí Toà án.

Tuyên bố: bị cáo Lê Duy C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lê Duy C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2024.

Hình phạt bổ sung : Miễn phạt tiền cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu vàng, số imei: 359811267284088; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số imei: 35381608269959; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đỏ, imei 1: 865222048269397, imei 2: 865222048269389; 01 Laptop nhãn hiệu MSI màu đen có kí hiệu: MS-16R4.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho vật chứng số : NK2025 - 0151ngày 22/04/2025).

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANTPHN, VKSNDTPHN
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội;
  • - Công an Thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 2;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP; HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2025/HS - ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP. HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 150/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Duy C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger