|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2025/HS-ST
Ngày 21 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.
Ông Nguyễn Thái Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Lê Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Trịnh Phương T, sinh năm 1988, Đồng Nai (có mặt); Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; con ông: Trịnh H, sinh năm 1966 và bà Nông Thị Duy H1, sinh năm 1968; Chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 06/5/2022, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. (Thông chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2023).
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 02/12/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Thông chấp hành xong Bản án ngày 11/12/2013).
- Ngày 17/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Thông chấp hành xong Bản án ngày 18/01/2017).
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 11/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ theo Quyết định tạm giam số 277/2025/HSST-QĐTG ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
2/ Họ và tên: Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1979, tại Đồng Nai (có mặt); Nơi đăng ký thường trú: 4, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; con ông: Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1955; Vợ bà Bùi Thị Hải Y, sinh năm 1984 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 12/7/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. (T1 đã chấp hành xong Bản án ngày 06/6/2006).
- Ngày 22/01/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. (T1 đã chấp hành xong Bản án ngày 01/02/2008).
- Ngày 31/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Toàn chấp hành xong Bản án ngày 16/10/2021).
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 11/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ theo Quyết định tạm giam số 278/2025/HSST-QĐTG ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Phương T, Nguyễn Mạnh T1 là bạn quen biết nhau và là người sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 07 giờ ngày 11/11/2024, T đi bộ đến khu vực cổng chào thành phố B, thuộc phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì gặp T1. Tại đây, T rủ T1 đi mua ma túy về sử dụng, T1 đồng ý. T đưa T1 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) rồi cùng T1 đi đến khu vực đầu hẻm thuộc khu phố A, phường B, thành phố B. T đứng ngoài chờ, còn T1 cầm số tiền trên đi vào trong hẻm gặp một người phụ nữ tên T2 (không rõ lai lịch) mua 01 đoạn ống nhựa hàn kín bên trong chứa ma túy (H) với giá 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy T, T1 cùng nhau đi tìm địa điểm để sử dụng. Trên đường đi, T1 vào 01 tiệm thuốc tây (không rõ tên, địa chỉ) mua 02 ống kim tiêm và 01 lọ nước cất giá 12.000đồng (Mười hai nghìn đồng), để dùng làm công cụ sử dụng ma túy.
Đến khoảng 07 giờ 35 phút cùng ngày, T, T1 đi đến C, đường B, khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. T1 lấy tép ma túy (H) vừa mua được đổ vào lọ nước cất pha chế rồi bơm vào 02 ống kim tiêm chia cho T1, T mỗi người 01 ống để cùng nhau sử dụng bằng cách tiêm trực tiếp vào mạch máu trên cánh tay. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi T1, T vừa sử dụng ma túy xong thì bị Công an Đồn khu công nghiệp B1 phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyên Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an thành phố B1 xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Phương T, Nguyễn Mạnh T1 khai nhận hành vi như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 02 (hai) ống kim tiêm đã qua sử dụng bên trong có chất bám dính màu trắng đã được niêm phong, có chữ ký của Trịnh Phương T, Nguyễn Mạnh T1 và hình dấu mộc tròn của Đồn Công an khu công nghiệp B1.
Tại Kết luận giám định số: 2314/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
“Mẫu 02 (hai) xylanh được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Heroin. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”.
Bản cáo trạng số: 173/CT-VKSBH ngày 24/02/2025 truy tố các bị cáo Trịnh Phương T và Nguyễn Mạnh T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trịnh Phương T từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 từ 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong chứa 02 (hai) ống kim tiêm đã qua sử dụng bên trong có chất bám dính màu trắng do các bị cáo T, T1 sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Trịnh Phương T kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Mạnh T1 kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 07 giờ 35 phút ngày 11/11/2024, tại C, đường B, khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Trịnh Phương T, Nguyễn Mạnh T1 đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý,
4
thì bị Đồn Công an khu công nghiệp B1 bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1, tỉnh Đồng Nai xử lý.
Tại Kết luận giám định số: 2314/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
“Mẫu 02 (hai) xylanh được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Heroin. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, bị cáo Trịnh Phương T là người rủ rê, đưa tiền cho bị cáo T1 mua ma túy. Bị cáo Nguyễn Mạnh T1 là người trực tiếp đi mua ma túy, cung cấp dụng cụ và pha chế ma túy để tổ chức sử dụng.
Từ đó đã có đủ căn cứ xác định các bị cáo Trịnh Phương T và Nguyễn Mạnh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy pháp luật nghiêm cấm, nhưng để có ma túy sử dụng, các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật. Nên cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trịnh Phương T có 01 tiền án ngày 06/5/2022, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Phương T và Nguyễn Mạnh T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số: 2314/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
5
[6] Đối với đối tượng tên T2 (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.Tuyên bố các bị cáo Trịnh Phương T, Nguyễn Mạnh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trịnh Phương T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số: 2314/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
6
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nguyễn Thị Ngọc Hoa | Nguyễn Thái H2 | Trần Thị Kim Dung |
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
- Lưu (5).
Trần Thị Kim Dung
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Trần Công Danh | Vương Thị Khánh Loan | Trần Thị Kim Dung |
10
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
11
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
| Thiều Thị Phi Loan | Vương Thị Khánh Loan | Trần Thị Kim D |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
13
14
15
16
17
18
19
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
20
LƯU Ý:
A. Phần nội dung:
- - Chưa chỉnh sửa áp dụng khoản, điều... đối với các bị cáo theo đề nghị của VKS.
- - Về bồi thường thiệt hại nếu bị hại vắng mặt kiểm tra lại yêu cầu.
B. Phần nhận định:
- - Việc áp dụng khoản, điều ... đối với tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và bị cáo.
- - Tính bồi thường cụ thể cho các bị cáo.
C. Phần Quyết định:....
21
Bản án số 150/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 150/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
