|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 150/2025/HS-ST Ngày: 19-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tâm
2. Ông Hoàng Xuân Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lã Nguyễn Đức A, sinh ngày: 09/8/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Hộ khẩu thường trú (chỗ ở): 21 Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; con ông Lã Xuân T, năm sinh: 1960 và bà Nguyễn Thị Đức H, sinh năm: 1953; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/11/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Tổng Công ty Cổ phần B
Trụ sở: Số A G, phường K, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Ngọc S; chức danh: Phó phòng pháp chế; vắng mặt.
(Văn bản ủy quyền số 2471/GUQ-VTPost- PC ngày 12/3/2025)
Nguyên đơn dân sự: Hộ kinh doanh cầm đồ 873; trụ sở: H K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chủ hộ kinh doanh: Ông Đào Hữu D, sinh năm: 1983.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Mai Thị Thùy T1, sinh năm: 1991, địa chỉ: 4 Đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Ông Lã Đức T2, sinh năm: 1960; Địa chỉ: B Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Anh Văn Đức H1, sinh năm: 1992; Địa chỉ: F Đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Việt L, sinh ngày: 22/11/1991, địa chỉ: 4 L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lã Nguyễn Đức A là nhân viên giao hàng của Bưu cục H2 thuộc Tổng Công ty Cổ phần B, tại địa chỉ F Đường A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 27/10/2024, Lã Nguyễn Đức A đến Bưu cục làm việc và phân loại hàng hóa. Lã Nguyễn Đức A lấy từng kiện hàng từ các bao tải lớn để chia vào giỏ hàng chờ giao của mỗi tuyến giao hàng. Theo quy trình làm việc của Bưu cục, sau khi phân loại hoàn tất, mỗi nhân viên giao hàng sẽ tự lấy các kiện hàng có địa chỉ nhận nằm trên tuyến giao hàng cố định được phân công phụ trách từ trước và bỏ vào giỏ giao hàng cá nhân của chính nhân viên giao hàng đó. Trong lúc đang phân loại thì Lã Nguyễn Đức A phát hiện 01 kiện hàng có ghi nội dung là điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB cần được giao đến địa chỉ nằm trên Đường C, phường P, thuộc tuyến đường giao hàng của anh Nguyễn Việt L nên Lã Nguyễn Đức A nảy sinh ý định lấy trộm. Lã Nguyễn Đức A bỏ kiện hàng vào giỏ hàng của anh L và quan sát xung quanh. Nhận thấy không có ai chú ý nên Đức A lấy kiện hàng bỏ vào giỏ hàng cá nhân của mình rồi đi giao hàng như thường lệ. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/10/2024, Lã Nguyễn Đức A mở kiện hàng nêu trên ra và lấy 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax bỏ vào cốp xe mô tô của mình, rồi điều khiển xe đến nhà bạn gái tại địa chỉ 4 Đường A, Khu phố H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đưa điện thoại di động vừa trộm được cho bạn gái là Mai Thị Thùy T1. Lã Nguyễn Đức A nói với T1, đây là quà của mẹ Lã Nguyễn Đức A tặng cho T1. Do T1 đang mang thai con của Lã Nguyễn Đức A và trước đây mẹ của L1 Nguyễn Đức A từng nhiều lần tặng quà cho T1 nên T1 không nghi ngờ gì và nhận lấy. Đến ngày 29/10/2024, anh Nguyễn Việt L vào làm việc nhận hàng đi giao thì kiểm tra thấy thiếu kiện hàng Iphone 16 Promax nên báo cáo cho quản lý Bưu cục là anh Văn Đ H1 biết. Qua kiểm tra bản ghi camera, anh H1 phát hiện người đã lấy kiện hàng là Lã Nguyễn Đức A. Anh H1 mời Lã Nguyễn Đức A lên làm việc nhưng Lã Nguyễn Đức A không thừa nhận hành vi trộm cắp điện thoại di động Iphone 16 Promax nên anh H1 báo cáo sự việc cho cấp trên. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/10/2024, do lo sợ bị phát hiện nên Lã Nguyễn Đức A nói T1 bán chiếc điện thoại di động
3
Iphone 16 Promax để lấy tiền và chuộc lại điện thoại di động Iphone 15 của T1 đang cầm cố tại Hộ kinh doanh cầm đồ 873, địa chỉ số H, đường K, Khu phố B, phường L, thành phố T do Đào Hữu D làm chủ. T1 đồng ý và gọi điện thoại cho D hỏi bán. D hẹn T1 đến tiệm để kiểm tra rồi mới quyết định mua hay không. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 31/10/2024, Anh chở T1 đến tiệm cầm đồ gặp D. T1 nói với D nguồn gốc điện thoại là do người nhà tặng. Dụng kiểm tra thấy điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, 256GB, màu vàng cát, hàng chính hãng còn nguyên tem (seal) nên đồng ý mua với giá 32.000.000 đồng, T1 và A đồng ý bán. Tiền chuộc điện thoại di động Iphone 15 của T1 là 12.680.000 đồng nên D đưa cho T1 chiếc điện thoại di động Iphone 15 của T1 và số tiền 19.320.000 đồng. T1 giữ điện thoại di động hiệu Iphone 15 và đưa số tiền 19.320.000 đồng cho Anh giữ, Anh đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 02/11/2024, anh Văn Đức H1 đến Công an phường P trình báo sự việc mất trộm tài tài sản tại bưu cục H3. Cơ quan Công an đã mời Lã Nguyễn Đức A lên làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lã Nguyễn Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 229-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Điện thoại động điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng trị giá 36.990.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã gửi giữ tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T;
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng đỏ biển số: 59X3-560.73 và 01 (Một) điện thoại Realme, sim số 0933314475, đã qua sử dụng là tài sản riêng của Lã Nguyễn Đức A không liên quan vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra quyết định trả cho Đức A;
- - 01 điện thoại di động Iphone 15 màu vàng, đã qua sử dụng của Mai Thị Thùy T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra quyết định trả cho T1.
- - 01 USB ghi nhận hình ảnh Đức A phân loại hàng tại bưu cục và 01 USB ghi nhận hình ảnh Đức A đến tiệm cầm đồ bán điện thoại. (Lưu theo hồ sơ vụ án)
Về tránh nhiệm dân sự:
- - Ông Lã Xuân T là cha ruột của Lã Nguyễn Đức A đã bồi thường số tiền 36.990.000 đồng cho Bưu cục Hub Phước L2 thuộc Tổng Công ty Cổ phần B. Người được ủy quyền của Bưu cục Hub Phước L2 là anh Văn Đ H1 nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm.
- - Anh Đào Hữu D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án yêu cầu Lã Nguyễn Đức A trả lại số tiền 32.000.0000 đồng hoặc nhận lại 01 điện thoại
4
di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng và đề nghị xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 102/CT-VKSTPTĐ ngày 06/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lã Nguyễn Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Lã Nguyễn Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Lã Nguyễn Đức A từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về tích nhiệm ân sự: Ông Lã Xuân T là cha của bị cáo A đã bồi thường số tiền xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét; Đối với ỹu cầu bồi thường của ơng Đào Hữu D là chủ Hộ kinh doanh cầm đồ 873: Ghi nhận việc bị cáo Lã Đức A đồng ý trả lại cho ông D 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng; Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng đỏ biển số: 59X3-560.73 và 01 (Một) điện thoại Realme, sim số 0933314475, đã qua sử dụng thu giữ của Lã Nguyễn Đức A; 01 điện thoại di động Iphone 15 màu vàng, đã qua sử dụng thu giữ của Mai Thị Thùy T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xử lý xong (Bút lục 200, 201); Giao cho ông Đào Hữu D 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng; Lưu hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án; Bị cáo Anh phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
- - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T3 trình bày: Bản thân ông là thầy giáo, ông rất xấu hổ về việc làm của con trai ông là bị cáo Là Nguyễn Đức A. Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, chị T1 là bạn gái của bị cáo A có tìm gặp ông để nói với ông về vấn đề bồi thường cho bị hại. Sau đó, ông đã liên hệ với bị hại để nhận trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do bị cáo A gây ra, việc bồi thường đã thực hiện xong. Ông không yêu cầu bị cáo A phải trả lại ông số tiền 36.990.000 đồng ông đã bồi thường cho bị hại. Ông mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo A.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Mai Thị Thùy T1 trình bày: Chị là vợ chưa cưới của bị cáo A, chị hoàn toàn không biết 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng bị cáo Anh tặng chị là do phạm tội mà có, số tiền bán điện thoại được 32.000.000 đồng, bị cáo A đã chuộc 01 điện thoại di động
5
Iphone 15 màu vàng cho chị đã cầm trước đó, số tiền còn lại bị cáo Anh tiêu xài cá nhân hết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Bị hại, nguyn ơn ân sự; người cĩ quyền, nghĩa vụ lin quan anh Văn Đức H1, anh Nguyễn Việt L vắng mặt tại phĩn tịa. Xt việc vắng mặt của bị hại, nguyn ơn ôn sự, người cĩ quyền, nghĩa vụ lăn quan vắng mặt khơng ảnh hưởng ến việc giải quyết vấn ề quyền lợi của họ ăn Tịán vẫn tiến hình mở phin vắng mặt bị hại, nguyn ơn ấn sự, người cĩ quyền, nghĩa vụ lăn quan theo quy ịnh tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Lã Nguyễn Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 02/11/2024 của Công an phường P; Kết luận định giá tài sản; Lời khai nhận tội của bị cáo Lã Nguyễn Đức A phù hợp với lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/10/2024, tại Bưu cục H thuộc Tổng Công ty Cổ phần B, địa chỉ số F Đường A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lã Nguyễn Đức A đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 cái điện thoại di động I P, 256Gb, màu vàng, trị giá 36.990.000 đồng của Bưu cục Hub Phước L2 thuộc Tổng Công ty Cổ phần B. Sau đó, Lã Nguyễn Đức A đem bán cho Hộ kinh doanh cầm đồ 873; trụ sở: H K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Đào Hữu D làm chủ với số tiền 32.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Hành vi trên của Lã Nguyễn Đức A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Mai Thị Thùy T1 là người cùng L1 Nguyễn Đức A đi bán điện thoại Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng, sau đó đã chuộc điện thoại Iphone 15 cho T1 do T1 đã cầm trước đó. Tuy nhiên, T1 không biết điện thoại nêu trên do Anh
6
thực hiện hành vi phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với T1 là có căn cứ.
Đối với ông Đào Hữu D làm chủ Hộ kinh doanh cầm đồ 873 là người mua điện thoại di động do Anh bán, D không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với ông D.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Lã Nguyễn Đức A về tội “Trộm cáp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn rất trẻ, có sức khỏe, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền để tiêu xài, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Điều đó, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo Lã Nguyễn Đức A thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 36.990.000 đồng và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm (Bút lục 123) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nguyên đơn dân sự: Ông Đào Hữu D là chủ Hộ kinh doanh cầm đồ 873 có Đơn yêu cầu bồi thường bị cáo phải bồi thường số tiền 32.000.000 đồng hoặc trả lại 01 cái điện thoại di động Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng mà ông đã mua từ bị cáo A. (Bút lục 177). Hội ồng ắt xử nhận thấy: Thực tế, ơng Dã mua 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng của bị cáo A với số tiền 32.000.000 đồng do không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Sau đó, ông D đã giao nộp điện thoại trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để phục vụ công tác điều tra vụ án. Tại phiên toà, bị cáo A đồng ý bồi thường theo
7
Đơn yêu cầu của ông D, bị cáo biết theo Kết luận định giá tài sản số 229-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T thì điện thoại hiệu Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng có trị giá 36.990.000 đồng nhưng bị cáo tự nguyện giao lại 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax, 256Gb, màu vàng, bị cáo không có ý kiến gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo A.
[6] Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng đỏ biển số: 59X3-560.73 và 01 (Một) điện thoại Realme, sim số 0933314475, đã qua sử dụng thu giữ của Lã Nguyễn Đức A. Các tài sản này, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị cáo A là có căn cứ (Bút lục 201);
- - 01 điện thoại di động Iphone 15 màu vàng, đã qua sử dụng thu giữ của Mai Thị Thùy T1, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho chị T1 là có căn cứ. (Bút lục 200);
- - Giao cho ông Đào Hữu D 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng;
- - Lưu hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo Lã Nguyễn Đức A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đào Hữu D yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là số tiền 32.000.000 đồng hoặc nhận lại 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng ông đã mua của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường, tự nguyện giao lại 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng, có giá trị 36.990.000 đồng. Mặc dù, điện thoại có giá trị cao hơn 32.000.000 đồng nhưng do bị cáo tự nguyện giao lại cho ông D nên bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền 32.000.000 đồng là 1.600.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lã Nguyễn Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lã Nguyễn Đức A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: p dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 ược sửa ổi, bổ sung năm 2021; ốc Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dn sự năm 2015:
8
Bị cáo Lã Nguyễn Đức A đồng ý bồi thường cho ông Đào Hữu D là chủ Hộ kinh doanh cầm đồ 873 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng. Ông Đào Hữu D liên hệ Chi cục thi linhn Dn sự thinh phố Thủ Đức ể nhận 01 iện thoại di động Iphone 16 Promax 256 GB màu vàng theo Quyết ịnh chuyển vật chứng số 85/QĐ-VKSTPTĐ nầy 05/02/2025 của Viện kiểm ết nhin ân tình phố Thủ Đức, Tình phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 147 của Bộ luật tố tụng ân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 nầy 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Buộc bị cáo Lã Nguyễn Đức A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng; án phí dân sự sơ thẩm 1.600.000 (một triệu sáu trăm ngàn) đồng, nộp tai Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- Lưu kèm hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại, nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
9
Bản án số 150/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 150/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạt tù
