|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 150/2025/HS-PT Ngày: 11 – 12 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Hải
Ông Phùng Văn Định
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 149/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Lê Văn C, Lê Minh C1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – tỉnh Cà Mau.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1955 tại Cà Mau.
Nơi cư trú: ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị M; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)
2. Lê Minh C1, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1964 tại Cà Mau.
Nơi cư trú: Khóm F, phường B, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị M; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)
- Bị hại có liên quan đến kháng cáo: Ông Lê Văn Q sinh năm: 1974; địa chỉ: ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
Ngoài ra vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau, giữa bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn nhà ông R. Từ đó, bị cáo C xông vào đánh ông Q thì bị ông Q dùng tay phải đánh trúng vào ngực, bị cáo C đánh trúng vào vai phải của ông Q 01 cái thì bị ông Q dùng tay phải đánh liên tiếp trúng vào mặt bên trái 02 cái làm bị cáo C té ngã.
Bị cáo C1 chạy đến chỗ ông Q và bị cáo C đánh nhau dùng tay xóc chéo tay ông Q ra sau lưng rồi quật ngã xuống nền gạch làm cho ông Q ngã mạnh xuống nền gạch và bị cáo C1 tiếp tục khống chế bị hại Q, có lúc còn dùng đầu gối đè lên người của ông Q. Lúc ông Q bị bị cáo C1 khống chế không thể kháng cự được thì bị cáo C đi đến dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt làm cho ông Q bị chảy máu, bị cáo C tiếp tục đánh vào vùng sườn trái của ông Q gây thương tích.
Kết luận giám định tổn thương cơ thế số 208/KLGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận thương tích của ông Lê Văn Q như sau:
- 01 vết sẹo ở vùng trán phải kích thước, 1,5cm x 0,2cm: tỷ lệ 3%.
- Gãy cung trước xương sườn IV bên trái: tỷ lệ 2%.
- Gãy cung trước xương sườn V: tỷ lệ 02%.
- Gãy cung trước xương sườn VI: tỷ lệ 02%.
- Tổn thương màng phổi trái, tràn khí màng phổi trái hiện tại không để lại di chứng: tỷ lệ 4%.
- Gãy cung trước xương sườn V bên phải tại thời điểm giám định do Công an huyện T cung cấp không thể hiện tổn thương gãy cung trước xương sườn V bên phải do đó không có căn cứ xếp: tỷ lệ %.
- Gãy cũ xương đòn phải, gãy cũ cung sau xương sườn VIII bên trái không xếp tỷ lệ %.
- Vài kén khí thủng cạnh màng phổi trái do bệnh lý: không xếp tỷ lệ %
- Mắt trái tật khúc xạ (Viễn thị): không xếp tỷ lệ %.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn Q tại thời điểm giám định là 12%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 21/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – tỉnh Cà Mau, đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Lê Minh C1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, o khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 (một) năm tù
- Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Minh C1 09 (Chín) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Lê Văn C bồi thường cho người bị hại Lê Văn Q số tiền 10.884.000đ, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 5.000.000đ, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 5.884.000đ.
Buộc bị cáo Lê Minh C1 bồi thường cho người bị hại Lê Văn Q số tiền 7.256.000đ.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) sợi dây màu vàng có nhiều khúc và 01 (Một) tấm vải màu đỏ có nhiều hoa văn.
- Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự; bị cáo Lê Minh C1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 362.000đ án phí dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, kháng cáo như sau: ngày 08 tháng 9 năm 2025 bị cáo Cho kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo C1 kháng cáo toàn bộ bản án và không buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự; ngày 09 tháng 9 năm 2025 bị hại kháng cáo yêu cầu giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm vụ án như sau: bị hại đã rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với các bị cáo. Cho nên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với các bị cáo.
- Bị hại có ý kiến tranh luận: hiện nay bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên bị cáo không yêu cầu các bị cáo bồi thường và yêu cầu nhận số tiền 5.000.000đ mà bị cáo C đã nộp tại Thi hành án. Bị hại tự nguyện rút lại yêu cầu khởi tố đối với bị cáo C và bị cáo C1, đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, bị hại đồng ý chịu án phí khi rút yêu cầu khởi tố theo quy định.
- Bị cáo C và bị cáo C1 có ý kiến tranh luận: các bị cáo đồng ý theo ý theo ý kiến của bị hại tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét kháng cáo của bị cáo C1, bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo không phạm tội, với lý do: bị cáo chỉ có hành động đè bị hại là để ngăn chặn nên không cấu thành tội cố ý gây thương tích, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo và bị cáo C là anh em ruột, tại thời điểm bị cáo khống chế bị hại là điều kiện để bị cáo C gây thương tích cho bị hại; trường hợp bị cáo không khống chế bị hại thì giữa bị hại và bị cáo C chỉ xô xát qua lại, còn khi bị cáo khống chế được bị hại thì chỉ có bị cáo C đánh bị hại và bị hại không còn khả năng kháng cự, là điều kiện thuận lợi để bị cáo Cho gây thương tích nhiều chổ, nhiều nơi. Điều này phù hợp với đoạn video mà các bên cung cấp và không có căn cứ việc bị cáo C1 kêu oan, đồng thời tại phiên tòa bị cáo C1 đã đồng ý theo ý kiến của bị hại, không còn ý kiến kêu oan.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có kháng cáo, đồng thời các bên đã thỏa thuận bồi thường xong về trách nhiệm dân sự nên bị hại rút yêu cầu khởi tố và đề nghị đình chỉ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: bị hại rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với các bị cáo và việc rút yêu cầu khởi tố là phù hợp với ý muốn của họ, không bị ép buộc hoặc cưỡng bức nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án hình sự đối với các bị cáo. Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
[3] Bị hại được nhận 5.000.000đ tại Thi hành án, do bị cáo Cho bồi thường; vật chứng vụ án sẽ bị tịch thu và tiêu hủy, vì không còn giá trị sử dụng.
[3] Về án phí:
Tại phiên tòa sơ thẩm đã buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ. Tuy nhiên đây là vụ án khởi tố theo yêu cầu bị hại và hiện nay đã bị đình do bị hại rút yêu cầu khởi tố nên các bị cáo không chịu án phí hình sự sơ thẩm, mà bị hại phải chịu là 200.000đ.
Bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Vấn đề cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm: bị cáo có đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm, đây là ý kiến bị hại, mà không phải là nội dung kháng cáo nhưng cấp sơ thẩm vẫn tiến hành các thủ tục kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bản án sơ thẩm 21/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – tỉnh Cà Mau và đình chỉ vụ án.
- Căn cứ vào Điều 590 của Bộ luật dân sự:
Bị hại Lê Văn Q được nhận số tiền 5.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0001002 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – tỉnh Cà Mau).
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 sợi dây màu vàng có nhiều khúc, 01 tấm vải màu đỏ có nhiều hoa văn.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời).
Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – tỉnh Cà Mau) đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 01 năm 2025.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị hại Lê Văn Q nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |
Bản án số 150/2025/HS-PT ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về cố ý gây thương tích (phúc thẩm)
- Số bản án: 150/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy án, do người yêu cầu rút đơn
