Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 150/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14/04/2025

V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường
Các Hội thẩm nhân dân. Ông Võ Duy Bảo
Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 634/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu H. Sinh năm: 1999. Địa chỉ thường trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Bị đơn: anh Phạm Hữu S. Sinh năm: 1994. Địa chỉ thường trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Nguyễn Thị Thu H trình bày: Chị và anh Phạm Hữu S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn trên ngày 15/02/2017, tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Năm 2018, hai vợ chồng cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2019, chị H về Việt Nam, còn anh S ở lại. Năm 2020, anh S rời Công ty bên Đài Loan ra ngoài sinh sống bất hợp pháp. Do xa cách, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không liên lạc với nhau thời gian dài; anh S cũng không gửi tiền về để nuôi con, chăm sóc gia đình. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, đồng thời để ổn định cuộc sống cho cả hai, chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho ly hôn với anh Phạm Hữu S.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Phạm Hữu H2, sinh ngày 08/01/2020. Hiện cháu đang ở với chị H. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng. Sau khi Tòa án thụ lý, chị Nguyễn Thị Thu H xuất cảnh đi nước ngoài; có đơn trình bày giữ nguyên nội dung khởi kiện; trong thời gian chị H ở nước ngoài, gửi cháu Phạm Hữu H2 cho ông Nguyễn Văn D (bố chị H) chăm sóc cháu H2. Đơn có xác nhận của Đ tại Ba Lan.

Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía anh Phạm Hữu S: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Phạm Hữu S có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho anh Phạm Hữu S thông qua ông Phạm Hữu G, bà Nguyễn Thị L là bố mẹ đẻ của anh Phạm Hữu S; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Phạm Hữu S vẫn vắng mặt và cũng không có lý do. Theo trình bày của ông Q thì anh S hiện đang đi làm ăn ở Đài Loan, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói địa chỉ hiện tại ở đâu và anh S cũng biết việc chị H làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh S không có ý kiến gì.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 4855/QLXNC-Đ1 ngày 13/11/2024 của Phòng Q1 – Công an tỉnh N: Anh Phạm Hữu S xuất cảnh ngày 16/4/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, cho chị H được ly hôn với anh Phạm Hữu S; giao con chung của vợ chồng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tố tụng: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Phạm Hữu S có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; anh S hiện đang sinh sống Đài Loan. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2]. Về nội dung:

[2.1.]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Hữu S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, khi anh S đang ở nước ngoài, nhưng không được hàn gắn, giải quyết, đến hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc gia đình. Khi biết chị H xin ly hôn tại Tòa án, anh S không có ý kiến gì. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Hữu S không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Hữu S.

[2.2.] Về con chung: Chị H và anh S có 01 con chung là cháu Phạm Hữu H2. Anh S đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.

Do chị H đang ở nước ngoài, cháu H2 đang ở với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1; ông bà đồng ý nhận chăm sóc cháu H2, không yêu cầu cấp dưỡng, chi phí nên trong thời gian chị H ở nước ngoài, ông D, bà H1 có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H2.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[2.3] Tài sản chung, nợ: Chị Nguyễn Thị Thu H chưa yêu cầu giải quyết và anh Phạm Hữu S cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H.

  • [1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Hữu S.
  • [2] Con chung: Giao con chung là cháu Phạm Hữu H2, sinh ngày 08/01/2020 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Trong thời gian chị Nguyễn Thị Thu H đang ở nước ngoài, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Hữu H2.
  • Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
  • [3] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013632 ngày 13/12/2024.
  • [5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
  • Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Phạm Hữu S đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  • Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 150/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger