Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 150/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 12-6-2025.

V/v: Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Thiều Thị Phi Loan.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 2637/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 1412/2025/TB-TA ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thanh Hồng N, sinh năm 1973; Nơi cư trú: I A tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  2. Bị đơn: Ông Trịnh Kim C, sinh năm 1963; Nơi cư trú: C224 tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông C có mặt, bà N có đơn xin vắng mặt,).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2024, bản tự khai ngày 28/11/2024, 10/12/2024; Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 09/01/2025 và Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 12/5/2025, nguyên đơn bà Lê Thanh Hồng N trình bày:

Bà và ông Trịnh Kim C tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyền số 01/94 ngày 05 tháng 9 năm 1994.

Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc nhưng đến những năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông C có tính gia trưởng, kiểm soát cuộc sống của bà, không cho bà có không gian riêng tư, giao lưu bạn bè. Đêm ngày 08/12/2024, ông C đạp cửa xông vào phòng ngủ của bà, chửi bới, hăm dọa tạt atxit và dùng kéo đâm bà nhưng không trúng. Ông C còn giật lấy và đập điện thoại của bà rồi lấy mang đi. Sau đó, bà có báo Công an phường T về việc ông C hành hung bà. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trịnh Kim C.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Trịnh Lê Ái V, sinh ngày 07/7/1995; Trịnh Lê Hải V1, sinh ngày 19/9/1996 và Trịnh Lê H, sinh ngày 17/02/1998. Hiện các con đã đủ 18 tuồi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung:

+ 01 căn nhà xây trên diện tích đất 381,9m² thuộc thửa đất số 219, tờ bản đồ số 22 phường T, thành phố B được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 191 025 ngày 09/6/2010 cho ông Trịnh Kim C, bà Lê Thanh Hồng N. Trị giá khoảng 400.000.000 đồng.

+ 01 căn nhà xây trên diện tích đất 94,1m² thuộc thửa đất số 268, tờ bản đồ số 21 phường T, thành phố B được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 427 543 ngày 06/10/2005 cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trịnh Kim C, bà Lê Thanh Hồng N ngày 25/12/2005. Trị giá khoảng 800.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản chung là 1.200.000.000 đồng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nhận ½ giá trị tài sản chung, bà đề nghị được sở hữu nhà cùng diện tích đất 94,1m² thuộc thửa đất số 268, tờ bản đồ số 21 phường T, thành phố B và giao cho ông C nhà cùng diện tích đất 381,9m² thuộc thửa đất số 219, tờ bản đồ số 22 phường T, thành phố B. Bà có trách nhiệm thanh toán số tiền chênh lệch 200.000.000 đồng cho ông C.

- Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ngày 09/01/2025, bà có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung khi ly hôn, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 12/12/2024, 24/12/2024; Biên bản lấy lời khai ngày 12/5/2025 và Biên bản hòa giải, bị đơn ông Trịnh Kim C trình bày:

Ông và bà Lê Thanh Hồng N kết hôn năm 1994 và được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn. Ông là lao động duy nhất trong gia đình nuôi vợ và 03 đứa con đến tuổi trưởng thành, bà Lê Thanh Hồng N ở nhà nội trợ khi kết hôn đến nay. Bản thân ông biết mình có một số thiếu sót và suốt một thời gian dài chỉ biết đi làm kiếm tiền mà không dành thời gian gần gũi gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng thì theo ông phát sinh từ năm 2004 đến năm 2006, mà nguyên nhân thì do bà N không chung thủy nhưng vì gia đình ông đã tha thứ bà N. Tiếp đó đến năm 2017 ông lại phát hiện việc bà N không chung thủy, khi đó ông cũng đã nộp đơn ly hôn với bà N nhưng ông đã suy nghĩ lại vì mong muốn gia đình trọn vẹn cho con cái cũng như cả hai bên nội, ngoại nên đã không yêu cầu tiếp tục giải quyết. Tuy nhiên đến những năm gần đây thì bà N thường xuyên vắng nhà vào ban đêm, không còn chăm lo gia đình nữa nên ông bực tức và đến nói chuyện với bà N. Về sự việc ngày 08/12/2024 là do bà N cố tình làm lớn sự việc để có cớ ly hôn với ông chứ ông không có hành vi hành hung bà N.

Sau đó, mặc dù ông đã tìm cách liên hệ để nói chuyện với bà N bà N luôn tìm cách tránh né, đổi số điện thoại nên ông không thể nói chuyện, hàn gắn tình cảm được. Tuy nhiên, ông vẫn mong muốn giữ gia đình trọn vẹn nên ông không đồng ý ly hôn. Ông vẫn luôn chấp hành triệu của Tòa án.

Về con chung: Có 03 con chung tên Trịnh Lê Ái V, sinh ngày 07/7/1995; Trịnh Lê Hải V1, sinh ngày 19/9/1996 và Trịnh Lê H, sinh ngày 17/02/1998. Hiện các con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Do bà N đã rút yêu cầu khởi kiện đối với phần này nên ông cũng không có ý kiến gì.

Về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án trong thời hạn luật định. Xác định đúng tư cách đương sự.

- Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc tuân thủ pháp luật của các đương sự:

Bà Lê Thanh Hồng N, ông Trịnh Kim C thực hiện đúng các quy định về quyền của đương sự, đã cung cấp những tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, lời trình bày của mình, tham gia các buổi làm việc, phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng giấy triệu tập của Tòa án. Bà Lê Thanh Hồng N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Về yêu cầu ly hôn của bà Lê Thanh Hồng N thì căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Lê Thanh Hồng N và ông Trịnh Kim C đã có phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Đồng thời tại phiên tòa, ông C cũng đồng ý ly hôn với bà N nên đề nghị ghi nhận thuận tình ly hôn cho bà Lê Thanh Hồng N và ông Trịnh Kim C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thanh Hồng N khởi kiện yêu cầu được ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn với ông Trịnh Kim C; đồng thời Công an phường T, thành phố B xác định ông Trịnh Kim C có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại I A tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Bà Lê Thanh Hồng N là nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thanh Hồng N và ông Trịnh Kim C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyền số 01/94 ngày 05 tháng 9 năm 1994 nên công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của bà Lê Thanh Hồng N thì những năm gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Trịnh Kim C có tính gia trưởng, kiểm soát cuộc sống của bà, không cho bà có không gian riêng tư, giao lưu bạn bè. Ngày 08/12/2024, ông C đạp cửa xông vào phòng ngủ, chửi bới, hăm dọa và dùng kéo đâm bà nhưng không trúng. Ông C còn giật và đập điện thoại của bà rồi mang đi. Bà có báo Công an phường T về việc ông C hành hung bà. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trịnh Kim C.

Về phần ông Trịnh Kim C cũng xác định trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là từ phía bà N, ông cũng nhiều lần tha thứ cho bà N. Tuy nhiên, những tháng gần đây thì bà N thường xuyên vắng nhà vào ban đêm, không còn chăm lo gia đình. Sau đó, bà N bỏ về nhà mình ở Huế. Mặc dù ông đã tìm cách liên hệ để nói chuyện, hàn gắn tình cảm với bà N nhưng bà N luôn tìm cách tránh né, đổi số điện thoại. Do bà N kiên quyết ly hôn, tránh né không muốn hàn gắn tình cảm nên ông cũng đồng ý ly hôn với bà N.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thanh Hồng N nhận thấy bà N và ông Trịnh Kim C có nhiều mâu thuẫn, hiện nay cũng không còn sống chung, bản thân ông C cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trịnh Kim C và bà Lê Thanh Hồng N.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng bà Lê Thanh Hồng N, ông Trịnh Kim C có 03 con chung tên Trịnh Lê Ái V, sinh ngày 07/7/1995; Trịnh Lê Hải V1, sinh ngày 19/9/1996 và Trịnh Lê H, sinh ngày 17/02/1998. Hiện con chung đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

[4] Về chia tài sản chung: Ngày 09/01/2025, bà Lê Thanh Hồng N có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung khi ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn.

Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Bà Lê Thanh Hồng N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Biên Hòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, 217, 218, 227, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 5, 6, 7, 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; các Điều 5, 8, 9, 56, của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27; tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Bà Lê Thanh Hồng N được ly hôn với ông Trịnh Kim C.
  2. Về nuôi con chung: Vợ chồng bà Lê Thanh Hồng N, ông Trịnh Kim C có 03 con chung tên Trịnh Lê Ái V, sinh ngày 07/7/1995; Trịnh Lê Hải V1, sinh ngày 19/9/1996 và Trịnh Lê H, sinh ngày 17/02/1998. Hiện con chung đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét.
  3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn giữa bà Lê Thanh Hồng N và ông Trịnh Kim C.
  4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí: Bà Lê Thanh Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004721 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Hoàn trả cho bà Lê Thanh Hồng N số tiền 14.000.000 đồng tạm ứng án phí chia tài sản chung khi ly hôn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004719 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  1. Về quyền kháng cáo: Ông Trịnh Kim C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thanh Hồng N vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (02);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (01);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa (01);
  • - UBND phường Quyết Thắng, TP. Biên Hòa (01);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Anh Đức

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 150/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Bà Lê Thanh Hồng N được ly hôn với ông Trịnh Kim C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger