TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/4/2025
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cương
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Huyền – Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 457/2024/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 25/03/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương M - sinh năm 1982
HKTT: số A ngách C đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội
Hiện trú tại: số B ngõ H phố H, phường B, quận L, thành phố Hà Nội (vắng mặt)
Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1973
HKTT: số 1 ngách C đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội
Hiện trú tại: số B ngõ H phố H, phường B, quận L, thành phố Hà Nội (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương M trình bầy:
- Về tình cảm: Tôi và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận L, TP Hà Nội ngày 03/11/2003. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do anh N không có trách nhiệm với gia đình, với cuộc sống của mẹ con tôi. Hàng ngày một mình tôi vừa phải lo kinh tế vừa phải lo trông con, nuôi dậy con và toàn bộ công việc của gia đình. Anh N không đỡ đần hay chia sẻ cùng tôi. Vợ chồng va chạm, mâu thuẫn nên năm 2020 tôi đã đặt vấn đề đơn ly hôn nhưng anh N xin thay đổi và vì con nên tôi lại cố gắng chung sống. Mặc dù vậy nhưng anh N cũng không thay đổi, vẫn mình tôi gánh vác gia đình, anh N không hề đóng góp kinh tế và chúng tôi ngày càng xa cách mạnh ai người đó sống. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết và xin được ly hôn. Tôi đề nghị Toà án không tiếp tục hoà giải, đưa vụ án ra xét xử.
- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Trần Quỳnh A, sinh ngày 14/9/2004 và Trần Quỳnh T, sinh ngày 23/02/2007. Cháu Trần Quỳnh A đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng nuôi cháu Trần Quỳnh T. Hiện nay tôi là cán bộ của Công ty cổ phần P, thu nhập trung bình khoảng 20.000.000 đồng – 25.000.000 đồng/tháng. Trường hợp được nuôi cháu T, tôi không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện chịu cả theo quy định pháp luật.
Bị đơn là anh Trần Văn N trình bầy:
Tôi thống nhất với lời khai của chị M về điều kiện và thời gian kết hôn. Về mâu thuẫn xẩy ra sau vài năm kết hôn do vợ, chồng hay phải đi làm xa nhà không có thời gian để chia sẻ nên vợ chồng trở nên xa cách. Bên cạnh đó, cuộc sống gia đình luôn bị xáo trộn do một số đồ dùng cá nhân và tiền bạc thường xuyên bị mất và mất thời gian dài không biết. Vợ chồng nghi ngờ lẫn nhau, thậm chí nghi oan cho các con khiến không khí trong gia đình căng thẳng, mất niềm tin. Nguyên nhân nữa là do gia đình tôi luôn trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, làm việc xa nhà, các con bé nên tình cảm vợ chồng cũng xa dần. Vợ tôi lại nghi ngờ vô căn cứ, hay áp đặt khiến tôi luôn bị căng thẳng, rất khó chịu và áp lực. Tôi vẫn đóng góp tiền sinh hoạt hàng tháng, không muốn ly hôn vì không muốn các con phải khổ và do chưa thống nhất được về tài sản, quyền nuôi con, khi nào các con lập gia đình thì chúng tôi sẽ giải quyết sau.
- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Trần Quỳnh A, sinh ngày 14/9/2004 và Trần Quỳnh T, sinh ngày 23/02/2007. Trong trường hợp Toà án giải quyết ly hôn, tôi đề nghị được nuôi cháu Trần Quỳnh T và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ: Tôi tự thống nhất giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà phát biểu:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Chị Nguyễn Thị Phương M và anh Trần Văn N kết hôn hợp pháp. Quá trình chung đã phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp, không có niềm tin dù đã cố gắng hoà giải nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết tại tòa án, anh chị xác định có mâu thuẫn xẩy ra và kéo dài khiến cuộc sống vợ chồng áp lực, căng thẳng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Quỳnh A, sinh ngày 14/9/2004 và Trần Quỳnh T, sinh ngày 23/02/2007. Đề nghị HĐXX giao cho chị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quỳnh T, cháu Trần Quỳnh A đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
Ngày 18/10/2024, chị Nguyễn Thị Phương M nộp đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn là anh Trần Văn N có địa chỉ tại số B ngõ H phố H, phường B, quận L, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo loại việc và lãnh thổ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 05/3/2025 và ngày 25/3/2025, Tòa án Long Biên mở phiên tòa xét xử nhưng anh Trần Văn N có đơn xin vắng mặt nên HĐXX hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương M và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện G, thành phố Hà Nội năm 2023. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con nhỏ, vợ chồng làm việc xa nhà nên thiếu thời gian gần gũi, chia sẻ và đỡ đần nhau trong cuộc sống hàng ngày. Anh N chưa làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha để có thể bao bọc vợ con. Chị M bị áp lực gánh nặng kinh tế nên đã gồng mình lo toan, gánh vác gia đình và quên mất sự dịu dàng, vị tha của người phụ nữ. Anh chị thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống gia đình luôn áp lực, thiếu sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Năm 2017, 2018 anh chị đã có thời gian sống ly thân nhau do không tìm được tiếng nói chung. Quá trình giải quyết ly hôn, anh N cũng vắng mặt, không có thiện chí hòa giải.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị M, anh N đã kéo dài nhiều năm, cuộc sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát.
Về con chung: Xác định anh chị có 02 con chung là Trần Quỳnh A, sinh ngày 14/9/2004 và Trần Quỳnh T, sinh ngày 23/02/2007. Xét điều kiện cũng như nguyện vọng của các bên, HĐXX thấy cháu Trần Quỳnh T hiện đang trong độ tuổi trưởng thành, tâm sinh lý rất cần sự quan tâm, chăm sóc về giới tính của người mẹ, đặc biệt cháu lại có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, giao cháu cho chị M trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng sẽ phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Còn cháu Trần Quỳnh A đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không đặt vẫn đề xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147, điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ nghị quyết số 326/2016/NQ /UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương M.
Chị Nguyễn Thị Phương M được ly hôn với anh Trần Văn N. - Về con chung: Xác định anh chị có 02 con chung là Trần Quỳnh A, sinh ngày 14/9/2004 và Trần Quỳnh T, sinh ngày 23/02/2007.
Giao cho chị Nguyễn Thị Phương M được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Trần Quỳnh T. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con đói với anh Trần Văn N cho tới khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Không ai được quyền ngăn cản thăm nom, gặp gỡ và chăm sóc con chung. - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0051418 ngày 01/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên. Nay chuyển thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Huyền |
Bản án số 150/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 150/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương M - sinh năm 1982 Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1973
