Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 150/2025/DS-PT

Ngày: 27-6-2025

V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Tâm

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Thu Hằng và bà Đào Nữ Ngọc Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 118/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị C (B), sinh năm 1976.

    Điạ chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thành T – Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A.

  2. Bị đơn:

    1. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1960.
    2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958.

    Cùng địa chỉ: số B, tổ I, ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M: Ông Lý Hoàng T1, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/3/2025).

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983.
    2. Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1980.

    Cùng địa chỉ: tổ I, ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

    1. Ông Tôn Hữu P, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M.

(Các đương sự bà C, ông T, ông T1, bà H, bà L đều có mặt; các đương sự khác vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn Vũ Thị C trình bày: Ngày 16/6/2023, vợ chồng ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M có vay của bà số tiền 750.000.000 đồng, có làm hợp đồng, nội dung do bà C chuẩn bị sẵn, ông C1, bà M ký tên, ghi họ tên và đã nhận đủ số tiền vay; các bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 6 tháng, mục đích vay sửa nhà ở. Để đảm bảo khoản vay, ông C1, bà M có thế chấp cho bà C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận số CS09416, diện tích 1.168,2m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M.

Sau khi vay, ông C1 và bà M không trả vốn và lãi mặc dù bà C đã nhiều lần yêu cầu ông C1, bà M thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông C1 và bà M có nghĩa vụ trả cho bà số tiền vay 750.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 16/6/2023 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS09416, diện tích 1.168,2m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Kim L, ông Tôn Hữu P dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm nên không thể ghi nhận ý kiến, không tiến hành hòa giải được.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị C (B).

    Buộc ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C (B) vốn gốc 750.000.000 đồng + lãi 199.417.000 đồng. Tổng cộng 949.417.000 đồng (chín trăm bốn mươi chín triệu bốn trăm mười bảy nghìn).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Tuyên bố hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09416, diện tích 1.168,2m², loại đất ONT, CLN, thửa đất số 219, tờ bản đồ số 28 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 14 tháng 5 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M giữa bà Vũ Thị C với ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M là vô hiệu.

    Buộc bà Vũ Thị C có nghĩa vụ trả lại 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09416, diện tích 1.168,2m², loại đất ONT, CLN, thửa đất số 219, tờ bản đồ số 28 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 14 tháng 5 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M (bản chính).

  3. Về án phí:

    Ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M phải chịu 40.482.500 đồng (bốn mươi triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Vũ Thị C được hoàn lại 17.300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 00015615 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/3/2025 bị đơn ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo trễ hạn yêu cầu xem xét lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới với lý do Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh, đánh giá, xem xét chứng cứ của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự; bị đơn không có địa chỉ tại ấp H, xã K mà địa chỉ của bị đơn là tại ấp L, xã K nên từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử thì bị đơn hoàn toàn không nhận được thông báo, giấy triệu tập của Tòa án cũng như không nhận được Bản án sơ thẩm. Đến ngày 28/02/2025 bị đơn mới nhận được Quyết định của Chi cục thi hành án huyện Chợ Mới thì mới biết Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử oan sai cho bị đơn vì bị đơn chỉ vay của bà C số tiền 550.000.000 đồng vào ngày 05/8/2025, lãi suất 3%/tháng nhưng bà C lại khởi kiện số tiền 750.000.000 đồng là sai sự thật, không có căn cứ.

Tại Quyết định số 06/2025/QĐ-TA ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn của bị đơn ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyên Thị M.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ý kiến: Thống nhất số nợ vốn theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng xin nguyên đơn xem xét giảm tiền lãi vì hiện nay hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn tiền vốn 750.000.000 đồng và tiền lãi 75.000.000 đồng, tổng cộng là 825.000.000 đồng. Bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn.

  • Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tiền vốn là 750.000.000 đồng, để tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ thì nguyên đơn đồng ý cho bị đơn trả lãi là 75.000.000 đồng. Tổng cộng là 825.000.000 đồng. Nguyên đơn đồng ý trả lại 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có ý kiến: Thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 825.000.000 đồng.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H và bà Nguyễn Kim L trình bày: Vào năm 2022 thì bà H, bà L, bà M cùng vay của bà C số tiền 550.000.000 đồng có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà M, ông C1. Đến năm 2023, thì bà C nói cho vay thêm 650.000.000 đồng và làm thành 02 hợp đồng gồm 750.000.000 đồng và 450.000.000 đồng. Bà C làm sẵn hợp đồng vay 750.000.000 đồng đưa ông C1, bà M, bà H và bà L cùng ký tên nhưng bà C không có đưa thêm tiền, nói khi nào đến phòng công chứng làm thêm hợp đồng 450.000.000 đồng thì đưa tiền luôn. Nhưng khi đến phòng công chứng thì bà C không làm hợp đồng vay và đưa tiền thêm như thỏa thuận mà yêu cầu ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chúng tôi không đồng ý ký. Khi vay số tiền 550.000.000 đồng thì chúng tôi chỉ đóng lãi cho bà C được 09 tháng với lãi suất 3%/tháng. Do hoàn cảnh khó khăn nên không tiếp tục đóng lãi cho bà C. Nay bà C khởi kiện ông C1, bà M số tiền 750.000.000 đồng theo hợp đồng vay năm 2023 thì ông C1, bà M thống nhất trả nợ gốc 750.000.000 đồng và lãi 75.000.000 đồng, tổng cộng là 825.000.000 đồng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn vốn gốc 750.000.000 đồng + lãi 75.000.000 đồng, tổng cộng 825.000.000 đồng (T2 trăm hai mươi lăm triệu đồng); các phần khác của bản án dân sự sơ thẩm giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Bị đơn ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M kháng cáo quá hạn được chấp nhận việc kháng cáo quá hạn tại Quyết định số 06/2025/QĐ-TA ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Bị đơn là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của ông P không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông P.

  2. Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Căn cứ hợp đồng vay tiền có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được lập vào ngày 16/6/2023, bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả số tiền vay 750.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 16/6/2023 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm; Yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS09416, diện tích 1.168,2m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A giữa bà C với ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M vô hiệu. Xét thấy, việc giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện; các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự 2015. Ông C1, bà M vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà C yêu cầu ông C1, bà M trả nợ và yêu cầu tính lãi là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, cấp sơ thẩm đã buộc ông C1, bà M trả cho bà C vốn gốc 750.000.000 đồng + lãi 199.417.000 đồng, tổng cộng 949.417.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật.

    Nay tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông C1, bà M thống nhất nợ tiền vốn gốc theo hợp đồng vay được lập vào ngày 16/6/2023 là 750.000.000 đồng, tuy nhiên hiện nay bị đơn gặp hoàn cảnh khó khăn nên xin được giảm tiền lãi còn 75.000.000 đồng. Nguyên đơn bà C đồng ý chỉ yêu cầu bị đơn trả vốn 750.000.000 đồng và lãi 75.000.000 đồng, tổng cộng là 825.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là tự nguyện, không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội nên được công nhận.

    Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C (B) vốn gốc 750.000.000 đồng + lãi 75.000.000 đồng, tổng cộng 825.000.000 đồng như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.

    Đối với các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét nên giữ nguyên.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300; khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 280, 298, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 35, 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị C.

    Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C (B) vốn gốc 750.000.000 đồng+ lãi 75.000.000 đồng. Tổng cộng 825.000.000 đồng (T2 trăm hai mươi lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Tuyên bố hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09416, diện tích 1.168,2m², loại đất ONT, CLN, thửa đất số 219, tờ bản đồ số 28 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 14 tháng 5 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M giữa bà Vũ Thị C với ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị M là vô hiệu.

    Buộc bà Vũ Thị C có nghĩa vụ trả lại 01 (một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09416, diện tích 1.168,2m², loại đất ONT, CLN, thửa đất số 219, tờ bản đồ số 28 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 14 tháng 5 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M.
    • Nguyên đơn bà Vũ Thị C được hoàn lại số tiền 17.300.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015615 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
  4. Về phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Phòng KTNV-THA;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Thị Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 150/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị M. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger