Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/LÐ-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu - Nguyên Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;
  2. Bà Phạm Thị Thu Yến – Nguyên phó Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vương Triều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 119/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-LÐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thu T, sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vương Thanh T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: G, ĐX100 tổ C, khu E phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Văn bản ủy quyền ngày 26/7/2024); có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm: 1997; địa chỉ: 3 khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011 bà Phan Thị Thu T có ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L và có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7410065387 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Do không am hiểu về pháp luật nên bà Phan Thị Thu T có cho bà Nguyễn Thị Bé Huỳnh m căn cước công dân để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH S từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 với mã số Bảo hiểm xã hội 7410252198.

Hiện nay bà Phan Thị Thu T đang tồn tại hai mã số bảo hiêm xã hội. Hiện bà Phan Thị Thu T đang trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội nên không thực hiện được thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm theo quy định.

Do đó bà Phan Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên Phan Thị Thu T (thực tế bà Nguyễn Thị Bé H là người lao động) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH S trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 là vô hiệu toàn bộ. Bà Phan Thị Thu T không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì về hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH S trình bày: Công ty TNHH S có ký hợp đồng lao động với người lao động có tên Phan Thị Thu T, ở bộ phận M. Thời gian bà T làm việc tại công ty thì công ty có đóng bảo xã hội đầy đủ; Tại thời điểm đó, tuyển dụng nhiều công nhân lao động phục vụ nhu cầu sản xuất nên công ty không thể biết được người lao động tại công ty là Nguyễn Thị Bé H chứ không phải bà Phan Thị Thu T, cho nên hiện nay thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công ty không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bé H trình bày: Bà H và bà T là người quen biết khoảng năm 2010 và bà H có mượn giấy chứng minh của bà T để đi xin làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 08 năm 2010 đến 02 năm 2011, nhưng thực tế người làm việc là bà H. Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thu T thì bà H thống nhất và không có yêu cầu gì đối với vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn phúc đáp cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm của bà Phan Thị Thu T, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa:

- Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ Điều 15, 16, 49 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Bà Phan Thị Thu T khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên bà Phan Thị Thu T (do bà Nguyễn Thị Bé H là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH S, có địa chỉ trụ sở khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 là vô hiệu toàn bộ. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các đương sự không cung cấp Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH S và bà Phan Thị Thu T. Tuy nhiên, tất cả các đương sự đều thống nhất có việc giao kết hợp đồng. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2] Xét thấy, bà Phan Thị Thu T cho bà Nguyễn Thị Bé Huỳnh m giấy tờ cá nhân để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 tại Công ty TNHH S theo mã số Bảo hiểm xã hội 7410252198. Trong khoảng thời gian trên, bà Phan Thị Thu T cũng giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH L và có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7410065387.

Thực tế cá nhân trực tiếp lao động và ký kết hợp đồng tại Công ty TNHH S từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 là bà Nguyễn Thị Bé H không phải bà Phan Thị Thu T. Việc bà Nguyễn Thị Bé Huỳnh m hồ sơ của bà Phan Thị Thu T để làm việc tại Công ty TNHH S là không đúng quy định của pháp luật, nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.3] Bà Nguyễn Thị Bé H, Công ty TNHH S không tranh chấp, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 17, 19, 50, 51 và Điều 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (nay là các Điều 15, 16, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019);

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Thu T về việc Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu với bị đơn Công ty TNHH S.
    • - Tuyên Hợp đồng lao động giao kết giữa tên bà Phan Thị Thu TCông ty TNHH S trong thời gian từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 là vô hiệu.
    • - Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết các chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.
  2. Về án phí: Bà Phan Thị Thu T tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001978 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  3. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoa Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/LÐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu

  • Số bản án: 150/2024/LÐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ Khởi kiện tranh chấp HĐLĐ vô hiệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger