Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 150/2024/HSST

Ngày 19 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đình Khương;
  2. Ông Lê Văn Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hoàng Thủy Tiên- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D- L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/HSST, ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 07/11/2024, đối với bị cáo:

Bị cáo: Võ Hà G, sinh ngày 16/10/1992, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố C, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Võ Chí T, sinh năm 1946 và bà Cao Thị L, sinh năm 1952; Gia đình có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Hồ Thị Cẩm L1, sinh năm 1988; có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không có.

* Nhân thân:

  • Ngày 24/6/2009, Công an P, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt hành chính, đối với Võ Hà G: 50.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • Ngày 29/6/2010, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Võ Hà G: 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Ngày 23/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Võ Hà G: 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình chung của 02 bản án là: 39 tháng tù.
  • Ngày 10/01/2011, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Võ Hà G: 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 03 bản án là: 05 năm 03 tháng tù. Ngày 29/7/2014, G chấp hành xong án phạt tù.
  • Ngày 12/12/2014, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Võ Hà G: 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 08/6/2015, G chấp hành xong án phạt tù.
  • Ngày 30/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Võ Hà G: 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Ngày 18/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Võ Hà G: 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/9/2021, G chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/8/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Hồ Thị Cẩm L1, sinh năm: 1988; Chị Trần Thị Nhật T1, sinh năm: 1995; cùng địa chỉ: Khu phố C, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Đều vắng mặt (Chị L1, chị T1 có Đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Anh Nguyễn Minh N, sinh năm: 2000; địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Tháng 5/2024, anh Nguyễn Minh N (anh N), là người yêu cũ của chị Trần Thị Nhật T1 (chị T1), có chia sẻ cho Võ Hà G (G) xem clip quan hệ tình dục của anh N với chị T1 và hỏi G có muốn làm quen với T1 không, G đồng ý. Vì muốn quan hệ tình cảm, yêu đương (quan hệ thể xác) với chị T1 nên G đã đến nơi làm việc của chị T1 để tiếp cận, làm quen. G tự giới thiệu với chị T1 tên “Lê Quang T2”, làm Bộ đội Biên phòng ở thị trấn L, huyện H, nhà ở H. G truy cập ứng dụng Tiktok, tìm S bán trang phục quân đội rồi đặt mua 01 quân phục Bộ đội Biên phòng (01 áo, 01 quần, 01 thắt lưng, 01 đôi tất, 01 bảng tên “Lê Quang T2”, 01 phù hiệu Quyết thắng, 01 bộ ve hàm Đại úy). Sau thời gian quen biết, chị T1 nghi ngờ nên đã tự tìm hiểu và biết được tại Đồn biên phòng cửa khẩu L2 không có ai tên “Lê Quang T2” nên hỏi G thì G trả lời G làm việc tại Đội trinh sát Biên phòng tỉnh Q. Sau đó, G nhiều lần đi chơi cùng chị T1, khi đi G mặc trang phục Bộ đội Biên phòng đã mua để chị T1 tin tưởng bản thân là quân nhân.

Ngày 02/6/2024, chị T1 hẹn G đến quán cà phê và nói muốn chấm dứt mối quan hệ tình cảm thì G liền lập Tài khoản Zalo tên là “Minh N” (Mạo danh anh N) rồi nhắn tin tạo ra việc giả tống tiền chị T1, nếu không sẽ chia sẻ clip quan hệ tình dục giữa chị T1 và anh N. G sử dụng Tài khoản Zalo “Minh N” kết bạn, nhắn tin yêu cầu chị T1 đưa số tiền 50.000.000 đồng thì sẽ xóa các clip trên với mục đích chị T1 sẽ nhờ G giúp đỡ để có cơ hội níu kéo tình cảm.

Khi bị Tài khoản Zalo “Minh Nhật” tống tiền, chị T1 liền nhắn tin kể sự việc cho G và nhờ G giúp đỡ để xử lý đối với hành vi của anh N. G nói với chị T1 viết bản tường trình, ghi nội dung sự việc gửi cho G để trực tiếp giải quyết. Sau khi chị T1 viết Bản tường Trình, G lập biên bản giao nhận hồ sơ thể hiện đã nhận Bản tường trình của chị T1. Để tạo lòng tin, vào ngày 06/6/2024, G mặc trang phục Bộ đội Biên phòng đến quán P1 trên đường L in mẫu “Biên bản ghi lời khai” và đến nơi làm việc của chị T1 (Địa chỉ: Số E Quốc lộ I, thành phố Đ) tiến hành lập “Biên bản ghi lời khai” chị T1, hỏi về nội dung vụ việc. Sau đó, thấy chị T1 nghi ngờ do đã gửi Đơn trình báo nhưng không có ai làm việc, bắt giữ N nên G làm “Biên bản hỏi cung” đối với anh N thể hiện nội dung đã làm việc với anh N về video clip quan hệ tình dục giữa anh N với chị T1 đã được anh N lưu vào 01 thẻ nhớ.

Ngày 07/6/2024, G mặc trang phục Bộ đội Biên phòng hẹn chị T1 đến quán C với mục đích đưa cho chị T1 xem “Biên bản hỏi cung” đã viết trước đó và chiếc thẻ nhớ chứa các video clip để chị Tân xóa. Vì nghi ngờ G lừa dối nên chị T1 đã trình báo Công an thành phố Đ nên khi G đến quán cà phê thì bị lực lượng công an mời về trụ sở làm việc.

[2] Vật chứng thu giữ:

(2.1) Thu giữ của bị cáo Võ Hà G:

  • 01 áo bộ đội, 01 quần bộ đội, 01 thắt lưng bộ đội, 02 tất chân bộ đội, 01 phù hiệu quyết thắng, 01 bảng tên “Lê Quang T2”, 02 quân hàm đại úy kèm 02 ve và 01 đôi giày;
  • 01 bản tường trình vụ việc, 01 biên bản giao nhận hồ sơ vụ án, 01 biên bản ghi lời khai, 01 biên bản hỏi cung và 01 bìa hồ sơ vụ việc.
  • 01 Thẻ nhớ Micro SD, 8GB;
  • 02 điện thoại di động (01 hiệu Samsung Galaxy A13, 01 hiệu Iphone 11 Promax).

(2.2) Thu giữ của anh Nguyễn Minh N:

  • 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note10.

[3] Kết luận giám định:

(3.1) Kết luận giám định số: 866/KL-KTHS ngày 29/7/2024, Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 (trừ các chữ viết tại các vị trí có điểm chỉ vân tay trên mẫu cần giám định ký hiệu Al; chữ viết dưới chữ ký mang tên Trần Thị Nhật T1 trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A2) so với chữ viết mang tên Võ Hà G trên mẫu so sánh ký hiệu M là chữ do cùng một người viết ra.

(3.2) Kết luận giám định số: 1009/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Thẻ nhớ nhãn hiệu Transcend 8GB Micro SD, có chứa 03 (ba) tập tin video. Tổng dung lượng của các tập tin video là 513 MB.

(3.3) Kết luận giám định số 390/QĐ-SVHTTDL ngày 02/10/2024 của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Q, xác định: 03 (ba) Video trên là văn hóa phẩm khiêu dâm.

[4] Truy tố: Cáo trạng số 156/CT-VKS-ĐH ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Võ Hà G, về tội: “Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác” Điều 339 của Bộ luật Hình sự

[5] Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Hà G, phạm tội: “Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác".

* Trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điều 339, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập.

* Vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • Bản tường trình vụ việc, Biên bản giao nhận hồ sơ vụ án, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung, Bìa hồ sơ vụ việc và 01 thẻ nhớ Micro SD, 8GB: Là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Võ Hà G (Hiện có tại hồ sơ vụ án) nên tiếp tục lưu giữ theo quy định.
  • 01 áo bộ đội, 01 quần bộ đội, 01 thắt lưng bộ đội, 02 tất chân bộ đội, 01 phù hiệu quyết thắng, 01 bảng tên “Lê Quang T2”, 02 quân hàm đại úy kèm 02 ve, 01 đôi giày: Là công cụ phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Điện thoại di dộng hiệu S1.
  • Trả lại cho chị L1: Điện thoại di dộng hiệu Iphone
  • Trả lại cho anh N: Điện thoại di động hiệu Xiaomi
  • Trách nhiệm dân sự: Chị T1 và chị L1 không có yêu cầu gì về vấn đề dân sự nên không xem xét.
  • Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Hoạt động tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, thấy: Các hoạt động tố tụng về điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về trách nhiệm hình sự:

(1) Tại phiên tòa, bị cáo Võ Hà G khai nhận toàn bộ hành vi “Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác” mà bị cáo đã thực hiện vào tháng 5 và tháng 6/2024 như nội dung Cáo trạng số 156/CT-VKS-ĐH ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Võ Hà G mặc dù đã có vợ con, không phải là bộ đội Biên phòng, nhưng vì muốn làm quen để có quan hệ tình cảm, yêu đương (quan hệ bất chính) với chị Trần Thị Nhật T1 nên G đã có hành vi giới thiệu với chị T1., G tên “Lê Quang T2”, cấp bậc Đại úy, làm tại Đồn biên phòng cửa khẩu L2, Quảng Trị, Đội trinh sát Bộ đội Biên phòng tỉnh Q. Để tạo lòng tin, G đã mua trang phục Bộ đội Biên phòng (áo, quần, thắt lưng, đôi tất, giày, bảng tên “Lê Quang T2”, phù hiệu Quyết thắng, 01 bộ ve hàm Đại úy) và nhiều lần sử dụng khi đến gặp chị T1; tiến hành tiếp nhận bản tường trình và lập “Biên bản ghi lời khai” của chị T1 trái pháp luật, tự tạo lập “biên bản hỏi cung bị can” Nguyễn Minh N. Vì vậy, hành vi của Võ Hà G đã phạm vào tội “Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác” theo Điều 339 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

(2) Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo có công nước (Bố của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; mẹ của bị cáo được tặng B khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước) nên phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định; Gia đình hiện đang gặp nhiều khó khăn: 02 con của bị cáo điều đang nhỏ, vợ bị cáo đang mang thai sắp đến kỳ sinh nở; bị cáo là lao động duy nhất để tạo nguồn thu nhập trong gia đình (Thu nhập hiện tại: 8.000.000 đồng/tháng) nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ-là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đảm bảo tính giáo dục, răn đe và thể hiện sự khoan hồng của Pháp luật. Gia đình bị cáo hiện đang gặp khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập đối với Võ Hà G; Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Võ Hà G.

(3) Hành vi liên quan đến vụ án:

  • Võ Hà G có hành vi tạo lập Tài khoản Z để tạo ra việc đóng giả “Nhật tống tiền chị T1” nhưng mục đích chỉ để chị T1 lo sợ, nhờ G giúp đỡ mà không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của chị T1, từ đó để níu kéo tình cảm, tiếp tục quan hệ bất chính với chị T1 nên không cấu thành một trong các tội chiếm đoạt tài sản.
  • Bị cáo G mua trang phục quân đội thông qua ứng dụng Tiktok nhưng không nhớ rõ tên cửa hàng. Quá trình nhận hàng, G không nhớ tên của người vận chuyển nên không đủ căn cứ để xử lý đối với hành vi sản xuất, buôn bán quân trang.
  • Nguyễn Minh N có hành vi gửi các video clip khiêu dâm của mình và chị T1 cho G. Tuy nhiên, tổng dung lượng của các video clip này không quá 01 GB và N cũng không gửi các clip này cho ai khác ngoài G, bản thân N chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 326 BLHS và chưa bị kết án về tội này. Do đó, hành vi của N không đủ yếu tố để cấu thành tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” quy định tại Điều 326 Bộ luật Hình sự.

(4) Về vật chứng vụ án:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 74C1-438.14 cho chị Hồ Thị Cẩm L1, là có căn cứ.
  • 01 bản tường trình vụ việc, 01 biên bản giao nhận hồ sơ vụ án, 01 biên bản ghi lời khai, 01 biên bản hỏi cung, 01 bìa hồ sơ vụ việc và 01 thẻ nhớ Micro SD, 8GB: Là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Võ Hà G (Hiện có tại hồ sơ vụ án) nên tiếp tục lưu giữ theo quy định.
  • 01 áo bộ đội, 01 quần bộ đội, 01 thắt lưng bộ đội, 02 tất chân bộ đội, 01 phù hiệu quyết thắng, 01 bảng tên “Lê Quang T2”, 02 quân hàm đại úy kèm 02 ve, 01 đôi giày: Là công cụ phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Điện thoại di dộng hiệu S1, thuộc quyền sở hữu của G; bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • Điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 Promax, thuộc quyền sở hữu của chị L1 (Vợ của G); G sử dụng làm phương tiện phạm tội nhưng chị L1 không hay biết nên trả lại cho chị L1.
  • Điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note10 thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Minh N. Anh N sử dụng để chia sẻ cho G đoạn Clip quan hệ tình dục nhưng hành vi đó chưa đủ yếu tố xử lý hành chính nên trả lại cho anh N.

(5) Trách nhiệm dân sự: Chị T1 và chị L1 không có yêu cầu gì về vấn đề dân sự nên không xem xét.

(6) Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Hà G, phạm tội “Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác”.

* Trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điều 339, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Võ Hà G: 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Đ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Võ Hà G cho Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Võ Hà G có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 84/2024/LCĐKNCT-TA ngày 25/10/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 36/2024/QĐ-TA ngày 25/10/2024, đối với Võ Hà G.

* Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo bộ đội, màu xanh lá cây; 01 quần bộ đội, màu xanh lá cây; 01 thắt lưng bộ đội; 02 tất chân bộ đội, màu xanh lá cây; 01 phù hiệu quyết thắng, bằng kim loại; 01 bảng tên “Lê Quang T2”, bằng kim loại;, 02 quân hàm Đại úy quân đội kèm 02 ve; 01 đôi giày da màu đen.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, Imei 1: 352303782113064, I: 358889662113061.
  • Trả lại cho chị Hồ Thị Cẩm L1: 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 64GB, màu vàng, Imei 1: 353920109670341, I: 353920109915324.
  • Trả lại cho anh Nguyễn Minh N: 01 Điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 10, 128 GB, màu trắng, Imei 1: 869703059233725, I: 869703059233733.

Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao nhận đề ngày 08/11/2024.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

Buộc bị cáo Võ Hà G, phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng chẳn) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo, Người có QLNVLQ;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTР.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự về tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác

  • Số bản án: 150/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Hà G phạm tội giả mạo chức vụ cấp bậc, vị trí công tác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger