|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2024/HS-ST
Ngày: 06-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Long.
- Ông Hoàng Xuân Tỵ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng N, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1994 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú trước khi bị bắt: Số A Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1971, hiện trú tại: Thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và con bà: Cân Thị Kim L, sinh năm: 1973, hiện trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; gia đình có có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001; vợ: Nguyễn Bùi Minh H, sinh năm: 1998, hiện cư trú tại đường M, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (đã ly hôn); con: Nguyễn Ngọc Hạnh N1, sinh năm: 2023 hiện đang ở với mẹ; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 18/12/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 năm tù về tội “Giết người”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/02/2021. Đã thực hiện xong hình phạt bổ sung và án phí hình sự.
- Ngày 17/9/2024, bị Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000đ về hành vi “Tàng trữ vũ khí thể thao”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại khu vực trước nhà số C đường L, phường L, thành phố B, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và Công an phường L, thành phố B tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Hồng N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VISION, màu đỏ biển số 49H1-52395 do nghi ngờ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời điểm kiểm tra, Công an phát hiện tại vị trí hộc phía trước bên trái xe mô tô biển số 49H1-52395 có 01 bóp da màu đen hình chữ nhật kích thước 17cm x 10cm, đựng 02 gói nylon màu trắng có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 7,5cm x 04cm/gói, bên trong có chất tinh thể rắn màu trắng, nghi là chất ma túy. Theo Nguyễn Hồng N khai nhận 02 gói nylon bên trong có chất tinh thể rắn màu trắng nói trên là ma túy đá của N tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hồng N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, trong quá trình kiểm tra Cơ quan Công an phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 49H1-523.95 có 01 gói ny lon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ kích thước 07cm x 12cm bên trong đựng 02 viên kim loại hình viên đạn màu đen vàng đồng, dài 2,5cm gồm: phần đuôi có chữ C đường kính 0,6 cm, thân hình trụ tròn đường kính 0,5cm dài 1,5cm màu vàng đồng, phần đầu tròn màu đen đường kính 0,5cm, dài 01cm/viên và 02 viên kim loại hình viên đạn màu đen vàng đồng, dài 2,5cm gồm: phần đuôi có chữ F, đường kính 0,6 cm, thân hình trụ tròn đường kính 0,5cm dài 1,5 cm màu vàng đồng, phần đầu tròn màu đen đường kính 0,5cm, dài 01cm/ viên; 01 vật bằng kim loại màu đen - xám hình khẩu súng, kích thước tổng thể 14,5cm x 18cm, có kí hiệu XYL230312190. Cơ quan Công an thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy cùng tang vật nói trên.
Quá trình điều tra Nguyễn Hồng N khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 05/6/2024, một người tên L1 là bạn bè ngoài xã hội (không rõ nhân thân lai lịch) đi đến chỗ của N ở địa chỉ số A Hà Giang, phường L, thành phố B đưa cho N 02 gói nylon chứa chất ma túy đá khoảng 50 số và nói khi nào cần thì đưa ra sử dụng. Sau khi L1 nói vậy thì N cầm lấy số ma túy và cất vào bóp da màu đen hình chữ nhật kích thước 17cm x 10cm. Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày khi N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VISION, màu đỏ biển số 49H1-523.95 đi đến khu vực trước nhà số C L, Phường L, thành phố B thì bị Công an yêu cầu dừng xe để tiến hành kiểm tra và thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.
Đối với 04 viên kim loại hình viên đạn cùng với vật bằng kim loại màu đen - xám hình khẩu súng dài 20cm nêu trên thì vào khoảng 03 giờ 00 sáng ngày 06/6/2024 L1 đến nhà N thuê tại địa chỉ số A Hà Giang, phường L, thành phố B đưa cho N nhờ N giữ giúp. Sau đó N cầm 04 viên kim loại hình viên đạn cùng với vật bằng kim loại màu đen - xám hình khẩu súng dài 20cm nêu trên cất vào cốp xe mô tô nhãn hiệu VISION, màu đỏ biển số 49H1-523.95 cùng với số ma túy nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 741 ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu tinh thể đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,8024g loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Kết luận giám định số 742 ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Vật dạng súng có kích thước tổng thể 14,5cm x 18cm gửi giám định là súng ổ quay tự chế thiếu bộ phận nòng súng, ở thời điểm giám định không còn sử dụng để bắn được, không thuộc vũ khí quân dụng và không thuộc danh mục các loại vũ khí; 04 viên kim loại dạng viên đạn màu vàng, mỗi viên có đường kính đáy 07mm, đường kính thân 5,6mm, cao 2,5cm. Trong đó 02 viên mặt ngoài đáy ký hiệu “C”, mũi tù màu xám và 02 viên mặt ngoài đáy ký hiệu “F” mũi tù màu đồng gửi giám định không phải là đạn quân dụng (đều là đạn thể thao cỡ 5,6x15,6mm thuộc vũ khí thể thao).
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tạm giữ và trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu VISION, màu đỏ, BS: 49H1-523.95 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đàm Thị T1; tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng ổ quay màu đen có kích thước tổng thể 14,5cm x 18cm, thân bằng nhựa; 02 viên đạn thể thao, mỗi viên cỡ 5,6x15,6mm màu vàng. Trong đó 01 viên mặt ngoài đáy ký hiệu “C”, mũi tù màu xám và 01 viên mặt ngoài đáy ký hiệu “F” mũi tù màu đồng.
Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ: 02 phong bì niêm phong số 741/2024-PC09; 01 bóp da màu đen hình chữ nhật kích thước 17cm x 10cm.
Cáo trạng số: 141/CT-VKSBL ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố Nguyễn Hồng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trang đã thể hiện, mục đích tàng trữ là để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 741/2024-PC09; 01 bóp da màu đen hình chữ nhật kích thước 17cm x 10cm.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 06/6/2024, tại khu vực trước nhà số C đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Hồng N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 8,8024g (Tám phẩy tám không hai bốn gam) ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên. Nguồn gốc số ma túy này là do N được đối tượng tên L1 là bạn bè ngoài xã hội (không rõ nhân thân lai lịch) cho vào khoảng 14 giờ ngày 05/6/2024 để khi nào cần thì đưa ra sử dụng. Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân và cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác nhưng vì nhu cầu cho cá nhân nên bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử phạt tù có thời hạn, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không có chức vụ, nghề nghiệp không liên quan đến hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 741/2024-PC09 và 01 bóp da màu đen hình chữ nhật kích thước 17cm x 10cm. Xét thấy, đây là số lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ còn lại sau giám định và công cụ mà bị cáo dùng để tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng tên L1, là người có hành vi đưa ma túy cho N để sử dụng, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra xác minh là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Đối với hành vi tàng trữ 04 viên kim loại hình viên đạn và 01 vật bằng kim loại hình khẩu súng không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng” do đó ngày 17/9/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000đ về hành vi “Tàng trữ vũ khí thể thao” là có căn cứ và đúng pháp luật.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 (hai) phong bì niêm phong số 741/2024-PC09.
- 01 (một) bóp da màu đen hình chữ nhật kích thước 17cm x 10cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Hồng N phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
