|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 150/2024/HS - PT Ngày 28/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương và ông Phạm Trường Du
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2024/TLPT-HS ngày 29/7/2024 do bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXPT-HS ngày 13/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 88 ngày 28/8/2024 đối với:
Bị cáo có kháng cáo: Trần Tuấn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 03/9/1988, CCCD số [...] cấp ngày 20/8/2021 nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự; nơi sinh tại: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Tuấn C, sinh năm 1956 và bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1959; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Hoàng Thị Thùy D, Sinh năm 1988 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 19/4/2024, bị cáo bị Công an huyện T khởi tố về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
Nhân thân: Ngày 07/5/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội tổ chức đánh bạc theo Bản án số: 13/2019/HSST đã được xóa án tích.
Hiện nay đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T theo Lệnh tạm giam số: 159/LTG-ĐCSHS ngày 19/4/2024 của Công an huyện T. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1992 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Vũ Thị T3, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
Anh Vũ Đình H, sinh năm 1986 chồng bị hại (Có mặt)
Cháu Vũ Tuấn A, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
Cháu Vũ Quang H1, sinh năm 2019 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện theo ủy quyền của bà T3, cháu Tuấn A1, cháu H1, anh H: Chị Hoàng Thị Thùy D, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 04/02/2024, Trần Tuấn T, sinh năm 1988, trú thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe ô tô tải BKS 36C - 469.67 chở đất trên Quốc lộ D theo hướng huyện T đi huyện V. Khoảng 07 giờ 40, khi đi đến KM 32+830 QL 45 thuộc địa phận thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa, T thấy phía trước có chị Lê Thị T2, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển xe mô tô BKS: 36L6 - 157.39 đi cùng chiều phía trước; ở phần đường ngược chiều có 01 xe ô tô tải đang lưu thông. Lúc này, khoảng cách giữa xe ô tô do tình điều khiển cách xe mô tô do chị T2 điều khiển khoảng 07-08m, cách ô tô tải ngược chiều khoảng 20m, T báo hiệu bằng còi, điều khiển xe ô tô của mình sang bên phần đường dành cho phương tiện lưu thông ngược chiều theo hướng huyện V đi huyện T để vượt xe mô tô do chị T2 điều khiển. Khi T điều khiển xe ô tô vượt lên song song với xe mô tô do chị T2 điều khiển thì xe ô tô tải chạy ngược chiều đi đến nên T điều khiển xe ô tô của mình trở lại phần đường bên phải theo chiều đi của mình để tránh xe ô tô ngược chiều dẫn đến má ngoài lốp trước bên phải xe ô tô BKS 36C - 469.67 va chạm với mặt sau ngoài ốp nhựa gương chiếu hậu bên trái của xe mô tô BKS: 36L6-157.39 do chị T2 điều khiển. Hậu quả, chị T2 bị ngã, va đập xuống đường tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và Kết luận giám định số: 832/KL-KTHS ngày 01/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Điểm va chạm đầu tiên: Má ngoài lốp trước bên phải cách cuối hàng chữ “WESTLAKE” 15cm cùng chiều chuyển động tiến xe ô tô BKS 36C-469.67 (ảnh 8,9) với mặt sau ngoài ốp nhựa gương chiếu hậu bên trái xe mô tô BKS 36L6-157.39 (ảnh 22, 23). Vị trí va chạm nằm trước đầu vết cà trượt (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trên chiều đường theo hướng từ Thạch Thành đi V. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm va chạm. Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động cùng chiều, xe ô tô BKS 36C-469.67 ở bên trái và có vận tốc lớn hơn xe mô tô 36L6-157.39.
- Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ô tô BKS 36C-469.67 với chị Lê Thị T2. Dấu vết tại mặt và má ngoài lốp trước bên phải tương ứng hàng chữ số “EZ867” xe ô tô BKS 36C-469.67 (ảnh 10, 11, 12) phù hợp với chất liệu vải sợi tạo nên.
Quá trình kiểm tra, xác minh, cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra quyết định Trưng cầu giám định nguyên nhân chết đối với chị Lê Thị T2. Kết luận số: 653/KLGĐPY-PC09 ngày 22/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết vỡ sương hộp sọ, tụ máu não.
Ngày 06/02/2024 CSĐT Công an huyện V đã ra quyết định Trưng cầu giám định Hóa pháp xác định cồn có trong máu của Trần Tuấn T, Lê Thị T2. Tại Bản kết luận giám định số: 766/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu máu của Trần Tuấn T và chị Lê Thị T2 niêm phong gửi giám định không có cồn.
Ngày 06/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V trưng cầu phòng KTHS Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số điện tử 01 (một) đoạn video lưu trữ trong đĩa DVD-R thu ngày 04/2/2024 từ camera của cửa hàng T4 ở thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa và 01 (một) đĩa DVD-R bên trong chứa 02 đoạn video thu từ camera của cửa hàng G thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 26/4/2024 phòng K Công an tỉnh T có kết luận số: 1722/KL-KTHS, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sữa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp video của 02 (hai) đĩa DVD-R gửi giám định.
Quá trình điều tra xác minh, Cơ quan CSĐT Công an huyện V xác định: sau khi xảy ra tai nạn, xe ô tô BKS 36C-469.67 và xe mô tô BKS 36L6-157.39 bị hư hỏng nhẹ, thiệt hại không đáng kể. Bên cạnh đó các bên có liên quan đến tài sản đã thống nhất tự sửa chữa. Xét thấy không cần thiết, Cơ quan CSĐT không tiến hành định giá tài sản đối với thiệt hại của các phương tiện.
Đối với đồ vật bị tạm giữ: 01 (một) xe ô tô BKS 36C - 469.67, số máy: YC6A260-33A10L1F30234, số khung: LGGX4Đ31FL232079; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 36C-469.67, mang tên Hoàng Thị Thùy D; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô BKS 36C-469.67, số 0089280; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số: 0020382; 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] hạng C, có giá trị đến 01/4/2026, mang tên Trần Tuấn T; 01 (một) xe Mô tô BKS 36L6-157.39, số khung RLHJK0318MY531862, số máy JK03E2438426, màu sơn: Đỏ-nâu-đen; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Thị T2, hạng A1, có giá trị không thời hạn; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe BKS 36L6-157.39, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm số 1139416 xe mô tô BKS 36L6-157.39 có giá trị đến 08/7/2025. Quá trình điều tra, xác minh xác định xe ô tô BKS 36C-469.67 và các giấy tờ liên quan là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị Thùy D và chị D đã có đơn xin lại chiếc xe và giấy tờ, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu bằng hình thức trả lại xe ô tô BKS 36C-469.67 và các giấy tờ liên quan cho chị Hoàng Thị Thùy D. Đối với 01 (một) xe Mô tô BKS 36L6-157.39, số khung RLHJK0318MY531862, số máy JK03E2438426, màu sơn: Đỏ-nâu-đen; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Thị T2, hạng A1, có giá trị không thời hạn; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe BKS 36L6-157.39; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm số 1139416 xe mô tô BKS 36L6-157.39 có giá trị đến 08/7/2025 là tài sản hợp pháp chị Lê Thị T2, đại diện gia đình có đơn xin lại, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu bằng hình thức trả lại cho gia đình chị T2. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] hạng C, có giá trị đến 01/4/2026, mang tên Trần Tuấn T Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chuyển theo hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc.
Về bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra sự việc Trần Tuấn T đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại chị Lê Thị T2 số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại đã nhận đầy đủ tiền bồi thường, có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Trần Tuấn T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Xử phạt: Trần Tuấn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 28/6/2024, bị cáo Trần Tuấn T có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa có quan điểm:
Tại cấp sơ thẩm bị cáo Trần Tuấn T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS (Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng đối với bị hại, đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bố đẻ là người có công với cách mạng) nên bị xử phạt 12 tháng tù là phù hợp.
Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là: Gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giam nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình khó khăn là lao động chính trong nhà, có nơi cư trú rõ, UBND xã xác nhận và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đã ủng hộ quỹ “Làm nhà ở cho hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, hộ khó khăn về nhà ở 2 năm 2024 – 2025” nên bị cáo được hưởng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 54 của BLHS giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn T, giảm hình phạt cho bị cáo từ 4- 6 tháng tù. Buộc bị cáo phải tiếp tục chấp hành hình phạt còn lại.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết mình là sai, là lao động chính trong nhà, rất mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:
Vào hồi 07 giờ 40 phút ngày 04/02/2024, tại Km32+830 QL45 thuộc địa phận thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa, Trần Tuấn T điều khiển xe ô tô BKS 36C-469.67 tham gia giao thông đã vượt xe không đúng quy định, không đảm bảo an toàn, vượt xe khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt dẫn đến má ngoài lốp trước bên phải xe ô tô BKS 36C – 469.67 va chạm với mặt sau ngoài ốp nhựa gương chiếu hậu bên trái của xe mô tô BKS 36L6-157.39 do chị Lê Thị T2 điều khiển. Hậu quả, chị T2 bị ngã, va đập xuống đường vỡ xương hộp sọ, tụ máu não tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 BLHS.
[3] Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc tội phạm nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, vi phạm quy định về vượt xe khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt được quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn T:
Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng đối với bị hại, đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bố đẻ là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ của cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp giao nộp bổ sung chứng cứ mới là Gia đình bị hại tiếp tục có đơn và tại phiên tòa tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình khó khăn là lao động chính trong nhà, có nơi cư trú rõ, UBND xã xác nhận và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đã ủng hộ quỹ “Làm nhà ở cho hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, hộ khó khăn về nhà ở 2 năm 2024 – 2025” nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo đã ăn năn hối hận, được gia đình bị hại tha thiết xin giảm hình phạt, UBND nơi cư trú đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên cần xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó áp dụng khoản 1 Điều 54 của BLHS giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước, mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Do vậy, kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn T là có cơ sở. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
Tại bản án số 56/2024/HSST ngày 26/7/2028 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành đã xử phạt bị cáo 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” đến nay bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Tuấn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
-
Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Điều 38 BLHS. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo: Trần Tuấn T 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án,
-
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Tuấn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Đại Long |
Bản án số 150/2024/HS - PT ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 150/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông
