|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 12 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Phúc Thị Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lưu Trọng Kim
- 2. Ông Mai Thương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 422/2024/TLST-HN&GĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Bích N, sinh năm 1993
Nơi cư trú: Số nhà I, đường C, tổ A, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy P, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số nhà B, đường số B, thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn và bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các tài liệu khác có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích N, trình bày: Chị và anh Nguyễn Duy P tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V vào ngày 09/3/2022. Quá trình chung sống: Chị và anh P cưới nhau xong về nhà cha mẹ ruột của chị tại V sinh sống, chị và anh P phát sinh mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cải nhau, anh P không có nghề nghiệp, nên thường ở trong phòng chơi game, mẹ ruột của chị lo cho anh từ ăn uống đến giặt giũ áo quần. Nhưng mặt anh cứ lầm lì và cho rằng mẹ vợ có thái độ không tốt với anh nên xảy ra xích mích, anh bỏ về nhà mẹ ruột của anh ở N sinh sống cách đây hai tháng và sau đó xuống bắt con về trên N nuôi mà không cho chị gặp gỡ thăm nom con. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh P nữa, chị yêu cầu ly hôn anh P.
Về con chung: Chị và anh P có 01 chung là Nguyễn Huỳnh Ngọc M, sinh năm 11/9/2023. Hiện do anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Nay chị yêu cầu anh P phải giao con lại cho chị nuôi. Chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Tại biên bản lấy lời khai, bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Duy P trình bày: Anh và chị Huỳnh Thị Bích N tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng lý kết hôn tại UBND thị trấn V vào ngày 09/3/2022. Sau khi kết hôn anh ở rể bên nhà vợ, gia đình vợ có điều kiện kinh tế nhưng xem thường anh, mẹ vợ và vợ có thái độ khó chịu với anh, anh cảm thấy ở bên nhà vợ không được hoà thuận nên anh về trên nhà mẹ ruột ở N sinh sống cách đây 2 tháng. Sau đó, khoảng tháng 11/2024 anh có xuống bắt con về nuôi. Nay anh xác định không còn tình cảm với N nữa, anh đồng ý ly hôn chị N.
Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Ngọc M, sinh năm 11/9/2023. Hiện do anh nuôi dưỡng, nếu ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp chị N nuôi con thì anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không tranh chấp.
Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Thẩm phán, thư ký đã chấp hành đúng pháp luật.
- - Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- - Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ pháp luật, nên được chấp nhận. Việc nuôi con: Chị N yêu cầu nuôi con, xét yêu cầu của chị là phù hợp nên được công nhận, cần buộc anh P cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng theo yêu cầu của chị N là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa đã phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt nên tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp nuôi con.
[4] Nội dung vụ án:
[a] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Bích N và anh Nguyễn Duy P tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 09/3/2022 của Ủy ban nhân thị trấn Võ Xu . Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, anh chị đã chung sống được thời gian rất ngắn rồi ly thân. Cho thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn thật sự trầm trọng, các bên không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N đã kiên quyết ly hôn anh P, anh P cũng đồng ý. Thấy rằng cuộc hôn nhân này đã mâu thuẫn thật sự trầm trọng, cuộc hôn nhân này không thể kéo dài nên nghĩ cần xử cho anh, chị ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.
[b] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Ngọc M, sinh năm 11/9/2023. Do cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Chị N cũng có nguyện vọng muốn nuôi, chị có tư cách đạo đức tốt, tuy chị có bệnh tim bẩm sinh nhưng chị vẫn được cha mẹ ruột quan tâm chăm sóc, đi khám bệnh định kỳ và tình trạng sức khỏe hiện tại bình ổn, chị có đủ sức khỏe chăm sóc, giáo dục con, chị có nghề buôn bán qua mạng. Đồng thời, chị ở chung với cha mẹ ruột, được cha mẹ giúp đỡ chị nuôi dạy con. Anh Nguyễn Duy P hiện là người đang trực tiếp nuôi con, anh cũng tha thiết được trực tiếp nuôi nhưng xét thấy hiện nay cháu bé còn quá nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, anh P lại không có thu nhập ổn định, anh trình bày anh ở chung với mẹ ruột, anh vẫn còn có 1 người em chưa có gia đình cùng sống với mẹ anh, gia đình dựa vào nghề nông, bản thân anh nuôi gà, thu nhập không ổn định, có tháng 2 triệu, 3 triệu, 5 triệu nên việc giao cháu M cho anh nuôi dưỡng sẽ không thuận lợi cho việc phát triển toàn diện của cháu bé. Vì vậy, nghĩ giao con cho chị N nuôi dưỡng, giáo dục sẽ đảm bảo sự phát triển về thể chất, tinh thần cho cháu bé. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cho chị được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Huỳnh Ngọc M, sinh năm 11/9/2023 là phù hợp. Hiện cháu đang sống chung với anh P, cần buộc anh P phải giao con lại cho chị N nuôi dưỡng.
Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Chị N yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/con/tháng, anh P không đồng ý nhưng xét thấy mức cấp dưỡng này là phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương hiện nay nên yêu cầu cấp dưỡng của chị N được chấp nhận. Cần buộc anh P phải cấp dưỡng cho chị N nuôi con 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản, nợ chung: các đương sự không tranh chấp.
[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị N là người yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí DSST về ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 110, Điều 115, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Bích N ly hôn anh Nguyễn Duy P.
- - Về con chung: Giao cho chị Huỳnh Thị Bích N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Ngọc M, sinh năm 11/9/2023.
- Buộc anh Nguyễn Duy P phải giao ngay cháu Nguyễn Huỳnh Ngọc M, sinh năm 11/9/2023 cho chị Huỳnh Thị Bích N được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
- Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Duy P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/con/tháng, cấp dưỡng từ tháng 12/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Chị N có quyền yêu cầu thi hành án ngay đối với việc buộc anh P giao lại con cho chị nuôi dưỡng, giáo dục và số tiền anh mà P phải cấp dưỡng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí DSST:
Chị Huỳnh Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 25/10/2024, ngày 25 tháng 10 năm 2024. Chị N đã nộp đủ án phí DSST.
Anh Nguyễn Duy P phải chịu 300.000 đồng án phí DSST về cấp dưỡng nuôi con, án phí nộp tại Chi cục thi hành án dân sự Đức Linh.
3. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án (13/12/2024) để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Phúc Thị Thu Hà |
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 150/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Bích N ly hôn, tranh chấp nuôi con Nguyễn Duy P
