Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 150/2024/DS-ST

Ngày: 07-6-2024

V/v tranh chấp hụi.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
    • Bà Nguyễn Kim Lên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C (Nguyễn Minh C1), sinh năm 1960. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

Bà Trần Thị D, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2024 của nguyên đơn, cũng như lời trình bày tại phiên tòa thể hiện:

Vào ngày 10/3/2014, một số thành viên trong Hội nông dân ấp B, xã K, thống nhất với nhau thành lập tổ hùn vốn như hình thức góp hụi. Cử ông Nguyễn Văn H1 làm tổ trưởng. Mỗi lần sẽ góp 01 chỉ vàng, 06 tháng sẽ bỏ hụi 01 lần, ai bỏ số tiền cao nhất sẽ được nhận vàng (hốt hụi) nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng, sau khi hốt hụi đến khi người khác hốt phải hoàn lại 01 chỉ vàng cùng với số tiền đã bỏ để được hốt hụi. tất cả có 18 phần hụi, ông C1, bà D tham gia 02 phần. Lần thứ nhất ông C1 bà D bỏ 4.950.000 đồng hốt. Lần thứ 2 ông C1 bà D bỏ 5.100.000 đồng hốt.

Do tổ trưởng không được nhận hoa hồng. Đồng thời khi bỏ hụi, các hụi viên khác nộp tiền trực tiếp cho người hốt hụi. Khi ông C1, bà D hốt hụi, bà H đã gia đủ vàng cho ông C1, bà D. Khi bà H hốt hụi, ông C1, bà D không nộp lại như thoả thuận nên bà khởi kiện yêu cầu ông C1, bà D trả lại cho bà H 02 chỉ vàng 24k và tổng số tiền bỏ hụi hốt là 10.050.000 đồng.

Đối với ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập đến Toà án để giải quyết vụ án theo quy định nhưng ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D là tranh chấp hụi. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện giao dịch đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc vắng mặt của ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D theo quy định.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà H có tham gia hùn vốn cùng ông C, bà D. Mỗi lần sẽ góp 01 chỉ vàng, 06 tháng sẽ bỏ hụi 01 lần, tất cả có 18 phần, ông C, bà D tham gia 02 phần. Lần thứ nhất ông C bà D bỏ 4.950.000 đồng hốt. Lần thứ 2 ông C bà D bỏ 5.100.000 đồng hốt. Do tổ trưởng không được nhận hoa hồng. Đồng thời khi bỏ hụi, các hụi viên khác nộp tiền trực tiếp cho người hốt hụi. Khi ông C, bà D hốt hụi, bà H đã gia đủ vàng cho ông C, bà D. Khi bà H hốt hụi, ông C, bà D không nộp lại như thoả thuận nên bà khởi kiện yêu cầu ông C, bà D trả lại cho bà H 02 chỉ vàng 24k và 10.050.000 đồng.

Về phía bị đơn, Toà án đã thông báo, triệu tập theo quy định của pháp luật để bị đơn biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông C, bà D đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi, không có ý kiến gì khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn cũng có cung cấp danh sách góp hụi, ký nhận tiền hụi. Từ đó, có căn cứ xác định giao dịch giữa các bên được thực hiện như lời trình bày của nguyên đơn là có thật.

Ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D không đóng hụi theo đúng thoả thuận nên bà H yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D thanh toán cho bà H số vàng còn thiếu là phù hợp.

Đối với số tiền bỏ hụi hốt là 10.050.000 đồng, đây là lãi hụi. Xét thấy việc thoả thuận về lãi hụi vàng như trên là sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, các bên tham gia là loại hụi mùa (06 tháng góp 01 lần) có diễn biến kéo dài. Phía bị đơn cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của nguyên đơn do đó Hội đồng xét xử chấp yêu cầu này của nguyên đơn.

Như vậy, ông C, bà D phải thanh toán cho bà H 02 chỉ vàng 24k và 10.050.000 đồng.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho bà H nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bà H không phải chịu án phí và được miễn nộp tạm ứng án phí. (Giá vàng áp dụng tính án phí là 7.230.000 đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
  • - Căn cứ Điều 147, điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Buộc ông Nguyễn Văn C (Nguyễn Minh C1), bà Trần Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị H 02 (hai) chỉ vàng 24k (Hai mươi bốn kara) và số tiền 10.050.000 đồng (Mười triệu không trăm năm chục ngàn đồng).

Đối với số tiền, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C (Nguyễn Minh C1), bà Trần Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.225.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), chưa nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, có mặt tính kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - CC.THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 150/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger