|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2023/DS-PT
Ngày: 27-10-2023
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1967
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1948
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trương Thị Kim T1, sinh năm 1970
- + Ông Trần N, sinh năm 1961
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn T, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 23/12/2022)
- + Ông Đỗ Văn V, sinh năm 1972
- + Ông Đỗ Đức D, sinh năm 1976
- + Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1968
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Văn T2: Ông Đỗ Đức D, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- + Bà Đỗ Thị Thùy D1, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- + Văn phòng C; Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn V.
Tại phiên tòa, có mặt: Bà Trần Thị H, ông Trần Văn T, bà Trương Thị Kim T1, ông Đỗ Văn V; vắng mặt ông Đỗ Văn T2, Đỗ Đức D, bà Đỗ Thị Thùy D1, Văn phòng C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/9/2020 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Vào tháng 02 năm 2003, bà Trần Thị H có sang nhượng cho vợ chồng ông bà thửa đất số 291 diện tích đất 1.200m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H, với số tiền 15.000.000 đồng, ông đã trả tiền cho bà H đủ và bà H đã giao đất cho vợ chồng ông bà sử dụng, vợ chồng ông bà đã rào ranh đất, trồng cây mãng cầu, cây thanh long. Bà H đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 cho vợ chồng ông bà để làm thủ tục tách thửa sang tên nhưng bà H cùng con gái bà tên D1 mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 để giải quyết việc gia đình. Sau đó, vợ chồng ông bà đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện việc tách thửa sang tên cho vợ chồng ông bà nhưng bà H không thực hiện và nói Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp ở ngân hàng chưa lấy ra được. Diện tích đất này vợ chồng ông bà đã sử dụng từ năm 2003 đến nay bà H không phản đối và cũng không bị Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực đất đai. Vợ chồng ông bà đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện việc tách thửa sang tên cho vợ chồng ông bà nhưng bà H không thực hiện. Ngày 05/01/2017, bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D toàn bộ các thửa đất trong đó có thửa số 291 diện tích 2.544m² đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà 1.138,6m² được Văn phòng C ký ngày 05/01/2017. Nay vợ chồng ông bà yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 7577 đối với thửa đất số 291 diện tích 1.200 m² (đo đạc hiện trạng là 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017, hậu quả của việc huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không yêu cầu giải quyết. Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 07/02/2003 giữa ông Trần Văn T với bà Trần Thị H đối với một phần thửa đất số 291 diện tích 1.200m² (đo đạc hiện trạng 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H.
Bị đơn bà Trần Thị H trình bày:
Gia đình bà được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 diện tích 8.510m² đứng tên bà Trần Thị H. Theo đơn khởi kiện của ông Trần Văn T buộc bà tiếp tục chuyển quyền sử dụng thửa đất số 291 diện tích đo đạc thực tế là 1.138m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà cho vợ chồng ông T thì bà không đồng ý, vì giữa bà và ông T không có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/02/2003. Vào năm 2003, do cần tiền trang trải cuộc sống lo cho các con bà có làm giấy tay vay của ông Trần N là anh ruột ông T 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) và làm giấy tay sang nhượng thửa đất số 291 diện tích đo đạc thực tế 1.138,6m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 và có giao sổ cho ông Trần N đi tách sổ nhưng không được nên ông N trả sổ lại cho bà. Đến năm 2017, các thành viên trong hộ gia đình của bà đồng ý cho Đỗ Dức D2 là con trai bà thửa đất số 291 diện tích 1.138,6m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 để D2 vay tiền ngân hàng B1 - Chi nhánh B2- Phòng G400.000.000 đồng chưa trả xong. Năm 2003, bà chuyển nhượng đất qua đo đạc thực tế 1.138,6m² cho ông Trần N nhưng chồng bà là ông Đỗ B và Đỗ Đức D không đồng ý, chỉ có bà, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn V, Đỗ Thị Thùy D1 đồng ý ký vào giấy tay cho ông Trần N. Bà không đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 291 diện tích đo đạc thực tế 1.138,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 cho ông Trần Văn T, đề nghị ông T trả lại đất cho bà và bà trả lại cho ông Trần N 15.000.000 đồng và lãi từ năm 2003 đến nay. Bà không đồng ý huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 7577 đối với thửa đất số 291 diện tích 1.200 m² (đo đạc hiện trạng là 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị Thùy D1 ủy quyền cho ông Đỗ Đức D trình bày:
Gia đình ông, bà được nhà nước cấp thửa đất số 291 diện tích 2.544m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000. Năm 2000, do cần tiền mẹ ông là bà Trần Thị H có mượn tiền của ông Trần N 15.000.000 đồng và bà H đồng ý sang nhượng cho ông N thửa đất 291 diện tích đo đạc thực tế 1.138,6m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000, chưa có sự đồng ý của ông V, bà D1, ông B và ông Đỗ Đức D. Sau khi mua bán, ông N không làm thủ tục sang tên được vì sai quy định pháp luật nên Hợp đồng mua bán đất giữa ông N và mẹ ông là vô hiệu. Ngày 05/01/2017 các thành viên trong hộ gia đình trong đó có ông V và bà D1 đã cho Đỗ Đức D thửa đất trên có làm hợp đồng tặng cho có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền đúng trình tự quy định của pháp luật. Ông T2, bà D1 không đồng ý sang nhượng đất cho ông T hay ông N và yêu cầu ông N và ông T dừng việc canh tác trên thửa đất số 291 nêu trên. Bà D1 và ông T2 không đồng ý huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 7577 đối với thửa đất số 291 diện tích 1.200m² (đo đạc hiện trạng là 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Đức D trình bày:
Hộ gia đình ông được nhà nước cấp cho 07 thửa ruộng gồm: thửa số 100 diện tích 1.086m², thửa số 101 diện tích 640m², thửa số 99 diện tích 1.712m², thửa số 288 diện tích 416m², thửa số 287 diện tích 1.104m², thửa số 291 diện tích 2.544m², thửa số 274 diện tích 1.008m². Tổng cộng 8.510m² tất cả thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 đứng tên bà Trần Thị H. Năm 2003, ông không biết gì về việc bà Trần Thị H chuyển nhượng đất cho ông Trần Văn T do ông đi học ở trong Thành phố Hồ Chí Minh, khi ông về nhà vào năm 2004 thấy ông T cây trồng thanh long trên đất nên ngăn cản nhưng ông T vẫn trồng thanh long đến nay. Ông có nghe bà Trần Thị H nói là chuyển nhượng đất cho ông Trần N là anh của ông T chứ không phải ông T. Nay ông Trần Văn T yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 7577 đối với thửa đất số 291 diện tích 1.200 m² (đo đạc hiện trạng là 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017, buộc bà H tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua đo đạc thực tế là 1.138,6m² thì ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn V trình bày như phần trình bày của ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị Thùy D1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Kim T1 trình bày như phần trình bày của ông Trần Văn T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Thông Văn N1 vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 04/12/2022 trình bày:
Ngày 05/01/2017, Văn phòng C có công chứng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 7577 đối với thửa đất số 291 diện tích 1.200 m² (đo đạc hiện trạng là 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D là hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần N ủy quyền cho ông Trần Văn T trình bày:
Ông không có liên quan gì trong vụ này, ông không đồng ý lời khai của bà H, ông không có mua đất của bà Trần Thị H mà cũng không có cho bà H vay tiền gì. Giữa ông T với bà H mua bán đất đai làm gì thì làm chứ ông không biết. Ông đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Người làm chứng ông Lương Quốc N2 trình bày:
Khoảng năm 2006, ông có đến vị trí thửa đất số 291 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 đo thử diện tích mà ông T nhận chuyển nhượng của bà H có đủ 1.200m² không, rồi từ đó ông Trần Văn T trồng cây thanh long canh tác cho đến nay. Ông chỉ biết thế không biết gì nữa, việc mua bán đất giữa hai bên ông không rõ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 130, Điều 131, Điều 132, Điều 394, Điều 395, Điều 690, Điều 691, Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 1995;
- - Điều 123, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 407, Điều 457, Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 4, Điều 5, Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169, Điều 179, Điều 188 Luật Đất đai.
- - Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
- - Điều 145, Điều 147, Điều 163; Điều 164; Điều 165 và Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 7577 vô hiệu một phần đối với thửa đất số 291 diện tích đo đạc hiện trạng là 1.138,6m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T đối với bà Trần Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 07/02/2003 giữa ông Trần Văn T với bà Trần Thị H đối với một phần thửa đất số 291 diện tích 1.200m² (đo đạc hiện trạng 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H. Vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trương Thị Kim T1 được quyền sử dụng một phần thửa đất số 291 diện tích 1.200m² (đo đạc hiện trạng 1.138,6m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H nêu trên và tài sản có trên đất: 135 trụ thanh long ruột trắng loại A và 01 giếng nước đường kính 2,3m, sâu 5,5m (có sơ đồ vị trí kèm theo).
- Vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trương Thị Kim T1, tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/6/2023 và ngày 14/6/2023, bị đơn bà Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn V vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm, nếu không hủy thì đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Nguyên đơn ông Trần Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim T3 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H, ông V và giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H, ông Đỗ Văn V và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Luật sư và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Tại phiên tòa, vắng mặt ông Đỗ Văn T2, Đỗ Đức D, bà Đỗ Thị Thùy D1, Văn phòng công chứng Thông Văn N1 nhưng những người này đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này là phù hợp.
[2] Đơn kháng cáo của bà Trần Thị H, ông Đỗ Văn V nộp trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện, thời điểm giao kết hợp đồng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 1995.
[4] Xét kháng cáo của bà Trần Thị H, ông Đỗ Văn V:
[4.1] Ngày 07/02/2003, ông Trần Văn T có nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị H diện tích đất khoảng 1.200m² (Theo Mành trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T5 đo vẽ ngày 29/01/2021 là 1.138,6m²) thuộc một phần thửa đất số 291, tờ bản đồ số 2, diện tích 2.544m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 23/10/2000 đứng tên bà Trần Thị H với số tiền là 15.000.000 đồng. Về hình thức của Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H, ông T là không đúng với quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 23/10/2000 với diện tích 8.510m² là cấp cho hộ bà Trần Thị H gồm 06 người: Chủ hộ là bà Trần Thị H, ông Đỗ B(chồng bà H) và các con: Đỗ Văn T2, Đỗ Văn V, Đỗ Đức D, Đỗ Thị Thùy D1 và không xác định cụ thể vị trí cho từng cá nhân hộ. Tương ứng mỗi người trong hộ được cấp diện tích 1.418,3m² đất. Nên việc bà H chuyển nhượng diện tích đất khoảng 1.200m² (Theo Mành trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T5 đo vẽ ngày 29/01/2021 là 1.138,6m²) vẫn nằm trong phạm vi diện tích đất mà bà H được cấp. Ông T nhận chuyển nhượng và đã trả đủ số tiền chuyển nhượng, sau đó tiến hành canh tác trồng cây thanh long từ năm 2003, phía bà H và gia đình biết nhưng không phản đối, không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nên công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và bà H xác lập ngày 07/02/2003 là phù hợp với quy định tại điểm b.3 điểm b.3; tiểu mục 2.3; mục 2 phần II của Nghị quyết 02/2004/NQ/HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định.
[4.2] Việc bà H khai có ký Hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/02/2003 nhưng là để mượn ông Trần N số tiền 15.000.000 đồng, không phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T. Căn cứ nội dung trong Hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/02/2003, từ lời khai của ông Trần N và quá trình canh tác trên đất của ông T, có đủ căn cứ để xác định Hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên là giữa bà Trần Thị H với ông Trần Văn T chứ không phải với ông Trần N như bà H trình bày.
[4.3] Mặc dù đã chuyển nhượng phần diện tích đất khoảng 1.200m² (Theo Mảnh trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T5 đo vẽ ngày 29/01/2021 là 1.138,6m²) cho ông Trần Văn T nhưng ngày 05/01/2017, gia đình bà H gồm bà Trần Thị H, ông Đỗ B (đã chết), ông Đỗ Văn T2, ông Đỗ Văn V, bà Đỗ Thị Thùy D1 đã thực hiện thủ tục tặng cho ông Đỗ Đức D toàn bộ diện tích đất 8.510m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 tại Văn phòng C. Điều này đã xâm phạm đến quyền lợi của ông Trần Văn T nên việc ông T yêu cầu hủy một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 7577 ngày 05/01/2017 là có căn cứ.
[4.4] Đối với các tài sản có trên diện tích đất 1.138,6m², gồm: 135 trụ thanh long ruột trắng; giếng nước đường kính 2,3m sâu 5,5m do ông Trần Văn T và vợ là bà Trần Thị Kim T3 trồng, xây (Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/01/2021) nên tiếp tục giao cho ông T và bà T3 quản lý, sử dụng.
[5] Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn V nhưng không có chứng cứ gì mới để chứng minh, không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo bà Trần Thị H, ông Đỗ Văn V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, do bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà H theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 130, Điều 131, Điều 132, Điều 394, Điều 395, Điều 690, Điều 691, Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 1995;
- - Điều 123, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 407, Điều 457, Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 4, Điều 5, Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169, Điều 179, Điều 188 Luật Đất đai;
- - Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 7577 vô hiệu một phần đối với thửa đất số 291 diện tích đo đạc hiện trạng là 1.138,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T đối với bà Trần Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 07/02/2003 giữa ông Trần Văn T với bà Trần Thị H đối với một phần thửa đất số 291 diện tích 1.200m² (đo đạc hiện trạng 1.138,6m²) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H. Vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trương Thị Kim T1 được quyền sử dụng một phần thửa đất số 291 diện tích 1.200m² (đo đạc hiện trạng 1.138,6m²) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H nêu trên và tài sản có trên đất: 135 trụ thanh long ruột trắng loại A và 01 giếng nước đường kính 2,3m sâu 5,5m (có sơ đồ vị trí kèm theo).
- Vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trương Thị Kim T1, tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về án phí:
Áp dụng: Điều 145, Điều 147, Điều 163; Điều 164; Điều 165 và Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4.1. Ông Trần Văn T không phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Trần Văn T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004518 ngày 14/10/2020 và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án 0006063 ngày 21/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
4.2. Bà Trần Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
4.3. Ông Trần Văn T không phải chịu lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất.
4.4. Bà Trần Thị H phải chịu 5.711.000 đồng (năm triệu bảy trăm mười một ngàn đồng) lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản để hoàn trả cho ông Trần Văn T do ông Trần Văn T đã nộp 5.711.000 đồng tạm ứng lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
4.5. Bà Trương Thị Kim T1, ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị Thùy D1, ông Đỗ Văn V, ông Đỗ Đức D và ông Trần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất.
4.6. Ông Đỗ Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông Đỗ Văn V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên lai số 0014732 ngày 16/6/2023. Ông V đã nộp đủ.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tuấn |
Bản án số 150/2023/DS-PT ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 150/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào tháng 02 năm 2003, bà Trần Thị H có sang nhượng cho vợ chồng ông bà thửa đất số 291 diện tích đất 1.200m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H, với số tiền 15.000.000 đồng, ông đã trả tiền cho bà H đủ và bà H đã giao đất cho vợ chồng ông bà sử dụng, vợ chồng ông bà đã rào ranh đất, trồng cây mãng cầu, cây thanh long. Bà H đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 cho vợ chồng ông bà để làm thủ tục tách thửa sang tên nhưng bà H cùng con gái bà tên D1 mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 để giải quyết việc gia đình. Sau đó, vợ chồng ông bà đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện việc tách thửa sang tên cho vợ chồng ông bà nhưng bà H không thực hiện và nói Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp ở ngân hàng chưa lấy ra được. Diện tích đất này vợ chồng ông bà đã sử dụng từ năm 2003 đến nay bà H không phản đối và cũng không bị Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực đất đai. Vợ chồng ông bà đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện việc tách thửa sang tên cho vợ chồng ông bà nhưng bà H không thực hiện. Ngày 05/01/2017, bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D toàn bộ các thửa đất trong đó có thửa số 291 diện tích 2.544m2 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà 1.138,6m2 được Văn phòng C ký ngày 05/01/2017. Nay vợ chồng ông bà yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 7577 đối với thửa đất số 291 diện tích 1.200 m2 (đo đạc hiện trạng là 1.138,6m2) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 giữa bà Trần Thị H, ông Đỗ B (chồng bà H đã chết), Đỗ Văn T2, Đỗ Thị Thùy D1, Đỗ Văn V cho ông Đỗ Đức D do Văn phòng C ký ngày 05/01/2017, hậu quả của việc huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không yêu cầu giải quyết. Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 07/02/2003 giữa ông Trần Văn T với bà Trần Thị H đối với một phần thửa đất số 291 diện tích 1.200m2 (đo đạc hiện trạng 1.138,6m2) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 885311 ngày 23/10/2000 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp đứng tên bà Trần Thị H.
