Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 150/2022/DS-PT
Ngày: 21 - 3 - 2022
V/v: Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
Các thẩm phán: Ông Lê Văn An
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

- Thư ký phiên toà: Ông Thân Văn Nhường – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Thư ký phiên tòa dự khuyết: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16/3/2022 và 21/3/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 624/2020/TLPT-DS ngày 15 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2020/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 384/2021/QĐ - PT ngày 15 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số 107, ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Hoàng K, sinh năm 1978 (có mặt)
    Địa chỉ: Số 106, ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/10/2019).
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn N: Luật sư Bạch Sỹ Chất, Văn phòng Luật sư Bạch Sỹ Chất – Đoàn Luật sư tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  • - Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1954 (có mặt).
    2. Bà Võ Thị T, sinh năm 1956 (vắng mặt).
    Cùng địa chỉ: Số 136, ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Minh P (có mặt).
    2. Bà Trần Minh H2 (vắng mặt).
    3. Bà Nguyễn Thị Đ (vắng mặt).
    4. Bà Nguyễn Thị M1 (có mặt).
    5. Ông Nguyễn Văn N1 (Hoàng Nhứt) (có mặt).
    6. Bà Nguyễn Thị Q (vắng mặt).
    Cùng địa chỉ: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
    7. Bà Nguyễn Thị D (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp H3, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
    8. Ông Nguyễn Văn L (có mặt). Địa chỉ: Ấp H4, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
    9. Ông Nguyễn Văn Đ1 (vắng mặt). Địa chỉ: Số 81, T2, phường T3, thành phố D1, tỉnh Bình Dương
    10. Ông Nguyễn Hoàng T1 (có mặt). Địa chỉ: Ấp C, xã N3, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
    11. Bà Nguyễn Thị Út E (có mặt). Địa chỉ số 27/B H5, tổ 9, khu phố 8, thị trấn V, huyện V1, tỉnh Đồng Nai
    12. Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng (xin xét xử vắng mặt)
  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/3/2019 của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và lời trình bày của ông Ngô Hoàng K đại diện cho ông N có nội dung như sau:

Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp có diện tích 4.500m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng trước đây là của mẹ nguyên đơn là cụ Trần Thị N4 (cụ N4 đã chết vào năm 2007), đến khi Nhà nước trang trãi đất thì cấp cho ông Nguyễn Văn G toàn bộ thửa 164 có tổng diện tích là 15.100m2. Đến năm 1994 lấy hoa lợi bằng đất, ông G đã trả hoa lợi cho cụ N4 là 4.500m2 tại thửa 164, sau khi nhận hoa lợi 4.500m2 đất từ ông G giao trả, cụ N4 đã giao lại cho nguyên đơn sử dụng cho đến nay. Trước khi ông G giao trả diện tích 4.500m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 06 thì phần đất trên ông G đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/5/1993. Trong quá trình sử dụng đất nguyên đơn yêu cầu ông G đến Ủy ban nhân dân xã để lập thủ tục tách quyền sử dụng đất thì ông G không đồng ý, từ đó hai bên xảy ra tranh chấp.

Nguyên đơn Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu công nhận cho nguyên đơn phần đất có diện tích 4.500m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn và yêu cầu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 4.500m2, tại thửa số 164, tờ bản đồ số 06, mà Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã cấp cho ông Nguyễn Văn G vào năm 1993.

Tại văn bản phúc đáp ngày 22/5/2019 và tại biên bản lấy lời khai ngày 07/02/2020 cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn G trình bày: Nguồn gốc thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là của cha, mẹ bị đơn là ông Nguyễn Văn A (chết năm 1972) và cụ Trần Thị N4 (chết ngày 19/6/2007) sử dụng. Đến khi Nhà nước trang trãi đất thì bị đơn được trang trãi thửa 164, tờ bản đồ số 06 với diện tích là 15.100m2. Đến năm 1994 cụ Trần Thị N4 yêu cầu bị đơn trả hoa lợi bằng đất cho cụ N4, bị đơn đồng ý trả hoa lợi bằng đất cho cụ N4 với diện tích 4.500m2, việc trả hoa lợi có lập văn bản, phần đất 4.500m2 bị đơn trả hoa lợi cho cụ N4 không phải để cụ N4 cho lại Nguyễn Văn N vì tại Biên bản trả hoa lợi ngày 21/6/1994 cụ N4 có ý kiến là cho Năm N5 mượn để canh tác vì Năm N5 quá nghèo. Thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng bị đơn đã được Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã cấp quyền sử dụng đất cho bị đơn đứng tên vào ngày 10/5/1993 là trước khi bị đơn trả hoa lợi cho cụ N4. Hiện nay cụ Trần Thị N4 đã chết nên phần đất có diện tích 4.500m2, tại thửa số 164, tờ bản đồ số 06, mà Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng là di sản của cụ N4, không phải của Nguyễn Văn N nên bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Văn N và yêu cầu xem xét chia thừa kế theo pháp luật.

Tại tờ tường trình ngày 02/5/2020, Biên bản lấy lời khai ngày 15/5/2020 cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng N6 trình bày: Nguồn gốc phần đất tại thửa số 164, tờ bản đồ số 06, mà Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng là của cha, mẹ là ông Nguyễn Văn A và cụ Trần Thị N4, khi ông G ra ở riêng thì cắt phần đất này cho ông G diện tích bao nhiêu không biết, đến khi Nhà nước có chỉ thị trả hoa lợi thì ông G cắt trả cho tôi và mẹ tôi là cụ Trần Thị N4 diện tích 4.500m2, tôi và mẹ tôi cùng sử dụng, sau đó mẹ tôi giao cho ông N sử dụng vào thời gian nào không nhớ. Trước đây mẹ tôi và tôi có thống nhất giao phần đất này cho anh Nguyễn Văn N sử dụng vĩnh viễn. Tờ tường trình ngày 30/4/2005 và Biên bản xác minh ngày 30/4/2005 là do tôi ký tên thay cho cụ Trần Thị N4.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Minh P; Nguyễn Văn L; Nguyễn Thị M1; Nguyễn Hoàng T1; và Nguyễn Thị Út E có ý kiến là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị xem xét chia thừa kế đối với phần đất 4.500m2 do cụ Trần Thị N4 lấy hoa lợi từ ông G vào năm 1994, chia làm 11 phần theo pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm 26/2020/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định: Không chấp nhận toàn bộ yêu khởi kiện của nguyên Nguyễn Văn N về việc công nhận cho nguyên đơn phần đất có diện tích 4.500m2 (theo đo đạc thực tế 4.330,6m2) thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn và yêu cầu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 4.500m2 (theo đo đạc thực tế 4.330,6m2) thuộc thửa số 164, tờ bản đồ số 06, mà Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã cấp cho ông Nguyễn Văn G vào ngày 10/5/1993.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Phần đất có diện tích 4.500m2 (đo đạc thực tế 4.330,6m2) thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng được Uỷ ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn G ngày 10/5/1993. Ông Nguyễn Văn N cho rằng phần đất trên đã được cụ Trần Thị N4 (mẹ ông N) tặng cho vào năm 1994, nên khởi kiện yêu cầu Tòa án: Công nhận cho nguyên đơn quyền sử dụng đối với phần đất trên và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông G.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N: Từ những tài liệu, chứng cứ trên có cơ sở xác định phần diện tích đất tranh chấp đã được cụ N4 tặng cho ông N từ năm 1994. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị được công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất này là có căn cứ chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 26/2020/DS-ST ngày 07/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu khởi kiện của nguyên Nguyễn Văn N: Công nhận phần đất có diện tích 4.500m2 (theo đo đạc thực tế 4.330,6m2) thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Nguyễn Văn N. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 4.500m2 (theo đo đạc thực tế 4.330,6m2) thuộc thửa số 164, tờ bản đồ số 06, mà Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã cấp cho ông Nguyễn Văn G vào ngày 10/5/1993.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn G, bà Võ Thị T phải chịu chi phí trích lục hồ sơ địa chính là 300.000 đồng và chi phí thẩm định, định giá là 13.550.000 đồng.
  3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn G, bà Võ Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
CÁC THẨM PHÁN



Lê Văn An     Nguyễn Thị Thụy Vũ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Trần Văn Mười
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2022/DS-PT ngày 21/03/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 150/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger