|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 15/2024/DS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh
2. Ông Nguyễn Đắc Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 09/2024/TLVA-DS ngày 29/3/2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QÐST-DS ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1);
Trụ sở: Số G, phố T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H - Tổng giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Quốc H1 - Giám đốc chi nhánh S1.
Người được ủy quyền lại:
- Ông Nguyễn Tất Đ - Trưởng phòng khách hàng cá nhân (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Khắc T - Tổ trưởng tổ xử lý nợ cấp 1, tổ B, vùng XLN Tây Bắc bộ và Đồng bằng sông H, khối quản lý và xử lý nợ có vấn đề S1 (có mặt).
- Bị đơn: Anh Vũ Quang H2 - Sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tiểu khu C, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1963. Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (S1) trình bày:
Ngày 13/5/2020 Ngân hàng TMCP S (S1) đã thỏa thuận cho anh Vũ Quang H2 vay tiền thể hiện tại Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 56/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.110800, cụ thể:
- Số tiền cho vay: 1.300.000.000đ (một tỉ ba trăm triệu đồng)
- Thời hạn cho vay: 144 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên.
- Mục đích sử dụng vốn vay: Bù đắp chi phí mua bất động sản.
- Lãi suất cho vay trong hạn kỳ đầu tiên: 13,2%/năm, mức lãi suất này được áp dụng đối với khoản giải ngân phát sinh trong thời hạn 05(năm) ngày làm việc kể từ ngày ký Hợp đồng này. Đối với khoản giải ngân sau thời hạn này, mức lãi suất cho vay trong hạn được áp dụng theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay trong hạn được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể giữa hai bên. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ ngày giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng trả lãi cao nhất KHCN của S1 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) Biên độ cho vay là 4,0%/năm.
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 282, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện T (hay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa, đã được cấp GCNQSDĐ số CU516123, số vào sổ CH03918 ngày 04/5/2020 mang tên ông Vũ Quang H2. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 56/2020/HĐTC-CN/SHB.110800 ngày 13/5/2020.
Ngân hàng đã giải ngân cho anh H2 1.300.000.000đ (một tỉ ba trăm triệu đồng) vào ngày 14/5/2024 (Theo khế ước nhận nợ số 01-56/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.110800). Tại khế ước nhận nợ số 01-56/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.110800, hai bên đã thỏa thuận lịch trả nợ: Số kỳ trả nợ lãi là 144 kỳ, số kỳ trả nợ gốc là 144 kỳ, số tiền trả nợ gốc hàng kỳ chi tiết lịch trả nợ gốc theo phụ lục lịch trả nợ đính kèm. Theo đó, kể từ tháng 6/2020 đến 4/2032, mỗi tháng anh H2 phải trả cho Ngân hàng 9.000.000đ nợ gốc và lãi phát sinh hàng tháng, trả vào ngày 25 hàng tháng; tháng cuối cùng phải trả nợ gốc 13.000.000đ vào ngày 14/5/2032 và lãi phát sinh.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ tháng 10/2023. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu anh H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng anh H2 không thực hiện đúng nghĩa vụ như Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.
Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu anh H2 phải trả cho Ngân hàng số nợ tạm tính đến ngày 29/02/2024 là: Nợ gốc 940.000.000đ, nợ lãi trong hạn là 55.148.443, lãi quá hạn là 1.640.121đ và toàn bộ lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp anh H2 không trả được số tiền nợ trên, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
* Ngày 30/8/2024, bị đơn anh Vũ Quang H2 trình bày như sau: Anh đã biết việc ngân hàng S1 khởi kiện anh tại Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn để yêu cầu anh trả nợ. Từ khi vụ việc được thụ lý đến nay, anh đã trả được cho Ngân hàng 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Anh đã đến ngân hàng xin giãn thời gian trả nợ cho anh. Anh không muốn đến Tòa án hòa giải, anh không muốn làm việc với Tòa án vì cho rằng nếu làm việc với Tòa án thì anh sẽ mất tiền án phí nên anh đã xin ngân hàng tạo điều kiện rút đơn khởi kiện đối với anh. Ngày hôm nay (30/8/2024), anh đã trả thêm cho Ngân hàng A (một trăm hai mươi triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Anh đã rất cố gắng để trả nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên, anh đang gặp khó khăn về kinh tế nên xin giãn thời gian thêm, khoảng 30 ngày nữa anh sẽ trả hết nợ cho Ngân hàng và mong ngân hàng rút đơn khởi kiện.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà là người thuê nhà anh Vũ Quang H2 từ khoảng năm 2020. Do có quen biết nên hai bên không lập hợp đồng thuê nhà mà chỉ nói miệng. Giá thuê là 1.000.000đ/tháng, trả tiền theo tháng. Nay bà được biết anh H2 thế chấp nhà đấy này để vay tiền ngân hàng thì bà không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại phiên tòa. Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải nhưng bị đơn là anh Vũ Quang H2 không đến nên không thể tiến hành hòa giải được.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, buộc anh Vũ Quang H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền 850.707.947đ (Trong đó: nợ gốc: 841.000.000, nợ lãi trong hạn: 9.660.084đ, nợ lãi quá hạn: 45.863đ.), kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Trường hợp anh H2 không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí. Buộc anh H2 phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn có mặt; bị đơn là anh Vũ Quang H2 vắng mặt đến lần thứ 2 không rõ lý do, vì vậy Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung hợp đồng:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S và bị đơn anh Vũ Quang H2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 56/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 13/5/2020 với nội dung: Ngân hàng cho anh H2 vay số tiền 1.300.000.000đ (một tỉ ba trăm triệu đồng); thời hạn cho vay: 144 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Bù đắp chi phí mua bất động sản. Hợp đồng có thỏa thuận lãi suất trong hạn là 13,2%/năm, được áp dụng trong từng thời kỳ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 282, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện T (hay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa, đã được cấp GCNQSDĐ số CU516123, số vào sổ CH03918 ngày 04/5/2020 mang tên Vũ Quang H2. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 56/2020/HĐTC-CN/SHB.110800 ngày 13/5/2020. Quyền sử dụng đất đã được đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Như vậy, giao dịch dân sự về hợp đồng tín dụng và thế chấp quyền sử dụng đất được xác lập bởi nguyên đơn, bị đơn là hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Lý do dẫn đến việc khởi kiện:
Theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, hai bên đã thỏa thuận lịch trả nợ: Số kỳ trả nợ lãi là 144 kỳ, số kỳ trả nợ gốc là 144 kỳ, số tiền trả nợ gốc hàng kỳ chi tiết lịch trả nợ gốc theo phụ lục lịch trả nợ đính kèm. Theo đó, kể từ tháng 6/2020 đến 4/2032, mỗi tháng anh H2 phải trả cho Ngân hàng 9.000.000đ nợ gốc và lãi phát sinh hàng tháng, trả vào ngày 25 hàng tháng; tháng cuối cùng phải trả nợ gốc 13.000.000đ vào ngày 14/5/2032 và lãi phát sinh. Tuy nhiên, kể từ tháng 10/2023, anh Vũ Quang H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc việc thực hiện trả nợ nhưng anh H2 không chấp hành. Do vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh H2 phải thanh toán toàn bộ nợ cho Ngân hàng là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật dân sự và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, anh H2 đã cố gắng trả nợ cho Ngân hàng thêm số tiền 220.475.000đ và mong muốn ngân hàng tạo điều kiện rút đơn khởi kiện đối với anh, tuy nhiên Ngân hàng không đồng ý rút đơn khởi kiện.
Tính đến ngày xét xử (30/9/2024), anh H2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền: 850.707.947đ, (trong đó: nợ gốc 841.000.000đ, nợ lãi trong hạn: 9.660.084đ, nợ lãi quá hạn: 45.863đ.)
[3.2] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi suất theo Hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi anh H2 thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất theo Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[3.3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng:
Căn cứ theo quy định tại Điều 299, Điều 323, Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 59 và 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 56/2020/HĐTC-CN/SHB.110800 giữa Ngân hàng TMCP S với anh Vũ Quang H2, bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng số 56/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 13/5/2020 là đúng theo quy định của pháp luật; nên yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, sau khi án có hiệu lực pháp luật, trong trường anh H2 không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí. Buộc anh H2 phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 351, 357, 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự;
Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1) đối với anh Vũ Quang H2.
- Buộc anh Vũ Quang H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền 850.707.947đ (Trong đó: nợ gốc: 841.000.000, nợ lãi trong hạn: 9.660.084đ, nợ lãi quá hạn: 45.863đ.)
Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, nếu anh Vũ Quang H2 không trả được số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Nghi Sơn, Thanh Hoá phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 282, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện T (hay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa, đã được cấp GCNQSDĐ số CU516123, số vào sổ CH03918 ngày 04/5/2020 mang tên Vũ Quang H2.
* Về án phí:
Anh H2 phải chịu 37.521.200đ (ba mươi bảy triệu năm trăm hai mốt nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP S (S1) không phải chịu án phí. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền 20.951.000đ theo biên lai thu số 0007116, ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
* Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1) đối với anh Vũ Quang H2. 2. Buộc anh Vũ Quang H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền 850.707.947đ (Trong đó: nợ gốc: 841.000.000, nợ lãi trong hạn: 9.660.084đ, nợ lãi quá hạn: 45.863đ.) Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
