Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS -ST

Ngày: 30/9/2024

V/v: “T/c về hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng.

Bà Nguyễn Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2024/TLST- DS ngày 21 tháng 06 năm 2024 về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968 và ông Cao Huy T, sinh năm 1962. Cùng địa chỉ: số E, đường N, phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Kim C: chị Cao Thị Bảo N, sinh năm 1997. Địa chỉ: số nhà F, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: số B, ngõ B, phố B, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên Toà: có mặt: ông T, chị N; vắng mặt có lý do: bà T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Cao Huy T, bà Nguyễn Thị Kim C và người đại diện theo ủy quyền của bà C là chị Cao Thị Bảo N trình bày: bà Nguyễn Thị Kim C, ông Cao Huy T và bà Nguyễn Thị Bích T1 là bạn bè. Ngày 25/01/2023, bà T1 nói với ông T, bà C cần tiền chi tiêu gia đình nên vay ông T, bà T1 số tiền 430.000.000 đồng. Bà T1 nói khi nào cần tiền thì báo cho bà ấy trước một tháng. Bà T1 có viết giấy nhận nợ nội dung tóm tắt: “Tên tôi là Nguyễn Thị Bích T1, hôm nay ngày 25/01/2023 tôi có vay của chị Nguyễn Thị Kim C, chồng: Cao Huy T số tiền 430.000.000 đồng (viết bằng chữ bốn trăm ba mươi triệu đồng); phía dưới giấy nhận nợ có chữ ký ghi rõ họ tên của bên cho vay là Nguyễn Thị Kim C và bên vay là Nguyễn Thị Bích T1 ”. Trong giấy nhận nợ không thoả thuận lãi suất nhưng hai bên có thoả thuận miệng lãi suất 01%/tháng. Giấy nhận nợ viết vào ngày 25/01/2023 nhưng bà T1 ghi phía dưới sai ngày là ngày 05/01/2023. Khi ông T bà C cần tiền có báo trước 01 tháng cho bà T1 để chuẩn bị nhưng bà T1 khất lần, không trả cho ông T bà C tiền gốc và lãi mà còn thách thức. Bà T1 đã bán nhà đất nhưng cũng không trả nợ cho ông T bà C. Do không chứng minh được khoản vay này bà T1 vay chi tiêu cho gia đình nên ông T bà C chỉ khởi kiện bà T1 . Đến nay, ông T bà C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Bích T1 phải trả cho ông T bà C số tiền nợ gốc 430.000.000 đồng và lãi suất tạm tính từ ngày vay 25/01/2023 đến ngày 09/5/2024 là 15 tháng với mức lãi suất 1%/tháng là 64.500.000 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 494.500.000 đồng và tiếp tục tính lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 10/5/2024 cho đến khi bà T1 thanh toán hết khoản nợ gốc và lãi cho bà C, ông T. Nếu bà T1 trả luôn cho ông T, bà C tiền gốc thì ông bà cho bà T1 tiền lãi còn nếu bà T1 không trả luôn thì phải trả lãi cho ông T, bà C 1%/tháng. Ông T bà C yêu cầu bà T1 phải trả luôn số tiền gốc từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng thì mới đồng ý phương án cho bà T1 trả dần mỗi tháng 10 triệu đồng từ tháng 3 năm 2025 đến khi trả hết nợ. Bà T1 không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Tại bản tự khai và qua trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T1 trình bày: bà và vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim C và ông Cao Huy T có mối quan hệ bạn bè. Ngày 25/01/2023, bà có vay số tiền 430.000.000 đồng của vợ chồng ông T, bà C theo như giấy nhận nợ bà viết cho vợ chồng ông T, bà C. Trong giấy nhận nợ không thỏa thuận lãi suất, hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau là lãi suất 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ ngày. Từ khi vay, bà chưa trả được cho vợ chồng ông T, bà C được tiền gốc và tiền lãi nào. Khoản tiền này là do bà vay của bà C từ năm 2021 đến ngày 25/01/2023 thì viết lại giấy nhận nợ. Trong giấy nhận nợ bà có viết nhầm ngày vay là ngày 05/01/2023 nhưng thực chất ngày viết giấy vay là 25/01/2023, bà vay tiền để cho Công ty TNHH D vay lại do bà làm trong Công ty nên khoản tiền vay này là khoản nợ riêng của bà chứ không liên quan đến chồng bà là ông Đinh Trọng T2 nên ông T2 không biết khoản vay này và cũng không ký vào giấy nhận nợ. Đến nay Ông T bà C khởi kiện bà, yêu cầu bà phải trả số tiền nợ gốc 430.000.000 đồng và lãi suất tạm tính từ ngày vay 25/01/2023 đến ngày 09/5/2024 là 15 tháng là 64.500.000 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 494.500.000 đồng và lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 10/5/2024 cho đến khi bà thanh toán hết khoản nợ gốc và lãi cho bà C, ông T; Bà chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T bà C nhưng xin được trả dần mỗi tháng 10 triệu đồng từ tháng 3 năm 2025 đến khi trả hết nợ gốc và lãi. Hiện nay bà không có nguồn tài sản gì để có thể trả số tiền gốc luôn từ 100.000.000 đồng - 150.000.000 đồng theo yêu cầu của ông T bà C nên bà đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Tại phiên tòa: Ông Cao Huy T và chị Cao Thị Bảo N trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày thêm lãi suất lúc đầu có thỏa thuận là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày nhưng do bà T1 khó khăn nên đến tháng 5 năm 2023 khi yêu cầu trả nợ thì bà C có bảo với bà T1 chỉ yêu cầu tính lãi là 1%/tháng. Đến nay đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà T1 phải trả ngay số tiền nợ gốc theo giấy nhận nợ ngày 25/01/2023 bà T1 đã viết cho ông T, bà C là 430.000.000 đồng và lãi suất từ khi vay đến khi bà T1 trả xong nợ là 1%/tháng; số tiền lãi từ khi vay đến ngày 30/9/2024 là 20 tháng 5 ngày = 86.716.666 đồng. Bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí, không chấp nhận quan điểm của bà T1 xin được trả dần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vay theo giấy nhận nợ ngày 25/01/2023, bị đơn cư trú tại thành phố N nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
  • - Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: bà T1 đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn là ông Cao Huy T và bà Nguyễn Thị Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích T1 phải trả số tiền vay là 430.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 25/01/2023 và lãi suất 1%/tháng kể từ ngày vay đến khi trả xong nợ. Tài liệu, chứng cứ ông T, bà C chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là giấy nhận nợ do bà T1 viết ngày 25/01/2023.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích T1 tại bản tự khai, biên bản hòa giải cũng thống nhất với lời khai của nguyên đơn về khoản tiền vay, thời gian viết giấy nhận nợ ( ngày 25/01/2023 ), nghĩa vụ trả nợ. Bà T1 xác nhận còn nợ bà C, ông T số tiền gốc là 430.000.000 đồng và lãi suất từ khi vay đến nay chưa trả, đồng ý với mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu tính là 1%/tháng cho đến khi trả xong nợ; đây là khoản nợ riêng của bà, không liên quan đến chồng bà là ông Đinh Trọng T2 và bà chịu trách nhiệm trả nợ cho ông T bà C.

[2.1] Về khoản nợ gốc: Căn cứ vào giấy nhận nợ viết ngày 25/01/2023, có chữ viết và chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị Bích T1 và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, sự thừa nhận của các đương sự có đủ cơ sở kết luận bà Nguyễn Thị Bích T1 nợ bà Nguyễn Thị Kim C và ông Cao Huy T số tiền gốc là 430.000.000 đồng.

Trong giấy nhận nợ hai bên không ghi rõ thời hạn trả nợ nhưng lời khai của nguyên đơn khi cần tiền báo trước cho bị đơn một tháng, bị đơn xác nhận có sự việc nguyên đơn yêu cầu trả nợ nhưng không có tiền trả. Giấy nhận nợ ngày 25/01/2023 thực chất là hợp đồng vay tài sản có lãi và có thời hạn trả nợ. Việc bị đơn không trả nợ số tiền vay trên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466, 469 Bộ luật dân sự, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bà T1 xác nhận khoản nợ trên là nợ riêng của bà không liên quan đến chồng bà là ông Đinh Trọng T2; nguyên đơn khi khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng chỉ kiện bà T1 do không chứng minh được bà T1 vay tiền để chi tiêu cho gia đình nên không yêu cầu chồng bà T1 cùng trả nợ. Do vậy không có căn cứ buộc chồng bà T1 phải liên đới cùng trả nợ với bà T1.

[2.2] Về lãi suất: Trong giấy nhận nợ không ghi lãi suất; nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng và tại phiên tòa trình bày lãi suất thỏa thuận miệng là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày nhưng bị đơn chưa trả lãi lần nào sáu đó đã nói với bị đơn chỉ yêu cầu tính lãi là 1%/tháng; bị đơn trình bày lãi suất thỏa thuận miệng là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày nhưng cũng chưa trả lãi cho nguyên đơn được lần nào. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn thống nhất tính lãi suất là 1%/tháng kể từ thời điểm vay cho đến khi trả xong nợ; tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu tính lãi suất là 1%/tháng cho đến khi bà T1 trả xong nợ. Thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn về việc tính lãi suất 1%/tháng là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận;

Số tiền lãi tính từ khi vay 25/01/2023 đến ngày xét xử 30/9/2024là 20 tháng 05 ngày: 340.000.000 đồng x1%/tháng x (20+5/30)tháng = 86.716.666 đồng làm tròn thành 86.717.000 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà T1 còn phải tiếp tục chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là 1%/tháng cho đến khi bà T1 trả xong nợ cho ông T, bà C.

[2.3] Bà T1 đồng ý trả số tiền 430.000.000 đồng cho ông T, bà C nhưng xin được trả dần mỗi tháng 10.000.000 đồng, kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi trả hết nợ. Tuy nhiên việc bà T1 đề nghị không được ông T, bà C đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà T1 và cần buộc bà T1 phải trả luôn số tiền nợ gốc và lãi cho ông T, bà C.

[2.4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Huy T, bà Nguyễn Thị Kim C: buộc bà Nguyễn Thị Bích T1 phải trả cho ông T, bà C số tiền nợ gốc và lãi tính từ khi vay đến ngày xét xử 30/9/2024 là 516.717.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại cho nguyên đơn.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.668.680 đồng làm tròn thành 24.669.000 đồng {20.000.000 đồng + 4% (516.717.000 đ - 400.000.000 đ)}.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào:

  • - Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468; Điều 469; Điều 357 BLDS năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 BLTTDS;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Huy T, bà Nguyễn Thị Kim C đối với bà Nguyễn Thị Bích T1 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Nguyễn Thị Bích T1 phải trả cho ông Cao Huy T, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền nợ gốc và tiền lãi tính từ ngày vay 25/01/2023 đến ngày xét xử 30/9/2024 theo giấy nhận nợ ngày 25/01/2023 là 516.717.000 đồng (năm trăm mười sáu triệu, bảy trăm mười bảy nghìn đồng): trong đó số tiền nợ gốc là 430.000.000 đồng và số tiền nợ lãi là 86.717.000 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Bích T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận là 1%/tháng, cho đến khi bà T1 thanh toán xong khoản nợ cho ông Cao Huy T và bà Nguyễn Thị Kim C.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích T1 phải chịu án phí là 24.669.000 đ (hai mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

- Trả lại tạm ứng án phí cho ông Cao Huy T, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền là 5.900.000 đ (Năm triệu, chín trăm nghìn đồng) mà ông Cao Huy T, bà Nguyễn Thị Kim C đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000326 ngày 20/06/2024.

Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6 Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giang Thị Thúy Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS -ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 14/2024/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu KK
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger