Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày 30-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Chí Thanh.
  2. Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 12-7-2024 và ngày 30-7-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Đức Thạch D là Công Ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1). Địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật của Công Ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1) là ông Lê Ngọc T, chức vụ: Tổng giám đốc. Địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của ông Lê Ngọc T là ông Nguyễn Minh T1, chức vụ: Nhân viên Công Ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1). Địa chỉ: Số B, đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thái P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các văn bản trình bày của anh T1 đại diện cho nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án: Vào ngày 27-3-2019, anh P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của anh P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh P đã rút dư nợ gốc 17.576.139 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng anh P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do anh P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng), ngày 23-07-2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Từ những nhận định trên, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Thái P phải thanh toán khoản nợ tính đến ngày xét xử 30-7-2024 như sau: Dư nợ gốc 17.576.139đồng. Lãi quá hạn 33.565.181đồng. Tổng cộng gốc lãi 51.141.320đồng. Anh Nguyễn Thái P còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính từ ngày 31-7-2024 đến ngày trả hết nợ.

- Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt (Theo thủ tục Niêm yết) hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn (Nguyễn Thái P) nhưng phía bị đơn không có ý kiến phản hồi trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự là đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Qua yêu cầu của Ngân hàng đối với anh P là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Hội đồng xét xử xét thấy qua yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S Tòa án thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn và phù hợp với kết quả xác minh của Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, như sau: “Nguyễn Thái P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay P không có mặt tại địa phương, không rõ nơi đến”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử các định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm bị đơn (Nguyễn Thái P) đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 và Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự mà vẫn cố tình vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Còn anh T1 là người đại diện cho nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn là đúng theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Thái P phải thanh toán khoản nợ tính đến ngày 30-7-2024 nợ gốc 17.576.139đồng. Lãi quá hạn 33.565.181đồng. Tổng cộng gốc lãi 51.141.320đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) ngày 27-3-2019 đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với anh Nguyễn Thái P cho thấy việc giao kết hợp đồng giữa các bên là có thật. Nội dung các bên thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội là phù hợp theo quy định tại các Điều 3, Điều 463 Bộ luật dân sự 2015.

Vào ngày 08-4-2019 Ngân hàng thương mại cổ phần S có cấp cho anh Nguyễn Thái P thẻ tín dụng Số 472075-8154; hạn mức 20.000.000đồng; lãi suất áp dụng 2,6%, phí theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Anh P đã sử dụng thẻ với số tiền 17.576.139đồng sau đó anh P không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 23-7-2020 Ngân hàng thương mại cổ phần S đã chuyển khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thánh toán. Căn cứ bản tính chi tiết quá trình sử dụng thẻ của anh P tính đến ngày 30-7-2024 anh P còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng là 51.141.320đồng, trong đó nợ vốn gốc 17.576.139đồng, nợ lãi quá hạn 33.565.181đồng. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh P nhưng anh P không có ý kiến phản hồi trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và không đến Tòa án để giải quyết nên Tòa án căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, anh P đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

Xét theo quy định pháp luật: Căn cứ khoản 2 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định:

“2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm theo hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật....”

Căn cứ khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định:

“2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.”.

Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định:

“Điều 98. Hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại

3. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:

  • Phát hành thẻ tín dụng;

Xét, cam kết của giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của anh P với Ngân hàng thương mại cổ phần S “... Bằng việc ký vào giấy đề nghị này tôi xác nhận rằng, tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S2. Điều khoản và Điều kiện cùng với giấy đề nghị này tạo nên một hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng S2 có tính ràng buộc về mặt pháp lý giữ tôi và S2.Tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà tôi đã được cấp...””

Xét Điều 26 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S quy định: “26.1. Việc thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến ngày thứ 10 của kỳ thông báo giao dịch lần thứ 2 thì toàn bộ nợ thẻ tín dụng sẽ chuyển sang nợ quá hạn. Trong trường hợp này sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và doanh nghiệp phải thanh toán”.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S buộc bị đơn anh Nguyễn Thái P phải thanh toán khoản nợ tính đến ngày 30-7-2024 là 51.141.320đồng, trong đó nợ vốn gốc 17.576.139đồng, nợ lãi quá hạn 33.565.181đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị đơn anh Nguyễn Thái P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Hội đồng xét xử xét lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 147, 177, 179, 180, 227, 228, 235, 238, 271, 273 và 278 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 280, 351, 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 và 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc anh Nguyễn Thái P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ vay tổng cộng 51.141.320đồng (Năm mươi mốt triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi đồng), trong đó nợ vốn gốc 17.576.139đồng, nợ lãi quá hạn 33.565.181đồng.

Kể từ ngày 31-7-2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 27-3-2019 đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với anh Nguyễn Thái P và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S) nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc anh Nguyễn Thái P phải nộp số tiền 2.557.000đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

- Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 983.781đồng (Chín trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số AA/2023/ 0002763 ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức (Do anh Nguyễn Minh T1 nộp thay).

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Cư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger