TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-PT.
Ngày: 29-5-2024
V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung,
chia tài sản chung vợ chồng".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ
Ông Hoàng Quý Sửu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2023/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung vợ chồng”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2024/QĐXX-PT ngày 08 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M: Bà Lâm Thị Trâm A và Đinh Thị N – Luật sư thuộc Công ty L1 – Đoàn luật sư T5.
Địa chỉ trụ sở: Số E, đường A, Sunrise C, KĐT T, phường Đ, quận H, TP Hà Nội. (Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; có mặt luật sư Lâm Thị Trâm A, vắng mặt luật sư Đinh Thị N).
- Bị đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1988. Có mặt.
Nơi cư trú: TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Trần Đình X, sinh năm 1962. Có mặt.
- 3.2. Bà Hà Thị T, sinh năm 1960. Có mặt.
- 3.3. Anh Trần Văn K, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- 3.4. Chị Hà Thị C, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Người kháng cáo: Chị Bùi Thị M là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn chị Bùi Thị M trình bày:
Chị M và anh Trần Văn Q kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện, có được tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, chị M về làm dâu, chung sống cùng gia đình nhà chồng tại xóm H, xã H (nay là TDP H, phường H), TP P, Thái Nguyên. Đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2014, chị đã bỏ về nhà ngoại ở, đưa cả hai con chung đi cùng. Chị M xác định giữa chị M và anh Q tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay chị M đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị M và anh Quyết s được 03 người con chung nhưng một cháu đã chết từ nhỏ, còn hai con chung là cháu Trần Đình Bảo T1, sinh ngày 07/12/2010; cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 12/02/2013. Hiện cháu Đ đã cắt khẩu chuyển về ở cùng với mẹ tại xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; cháu T1 vẫn đang ở cùng với bố và ông bà nội tại Hồng T2, P. Khi ly hôn, chị đề nghị giải quyết đối với hai con chung còn sống, mỗi người nuôi 01 con chung để các con ổn định, chị nhận nuôi con chung thứ hai là cháu Trần Đình Đ; giao cho anh Q nuôi con chung thứ nhất: cháu Trần Đình Bảo T1 cho đến khi con chung trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi người đều trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung nên chị không đề nghị và không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với mỗi bên.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị M và anh Q được bố mẹ chồng là ông Trần Đình X và bà Hà Thị T cho diện tích đất 950m² (trong đó có 300m² đất thổ cư và 650m² đất trồng cây lâu năm), tại thửa 498a, tờ bản đồ số 55. Vợ chồng đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số BU 824509 do UBND huyện (nay là thành phố P) cấp ngày 21/8/2014 mang tên Trần Văn Q và Bùi Thị M.
Tài sản trên đất: 01 nhà cấp bốn và 04 gian phòng trọ, nguồn gốc hình thành tài sản trên đất do bố mẹ hai bên cho vợ chồng, trong đó bố mẹ đẻ chị M cho số tiền 200.000.000đ, bố mẹ chồng cho nguyên vật liệu xây dựng còn tiền chị M không nắm được. Nay ly hôn, chị M đề nghị phân chia tài sản chung theo quy định của pháp luật. Chị M đã đồng ý để anh Q sử dụng toàn bộ tài sản chung và phải có trách nhiệm trích chia giá trị tài sản chung vợ chồng cho chị bằng tiền là 350.000.000₫.
Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Văn Q trình bày:
Về thời gian kết hôn, chung sống giữa anh và chị M như chị M khai và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M trình bày tại phiên tòa là đúng. Tuy nhiên, về mâu thuẫn vợ chồng chị M trình bày là không đúng, cả hai anh chị đã ly thân thời gian dài và không còn tình cảm. Anh Q đồng ý ly hôn theo đơn khởi kiện của chị M.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng sinh được 03 con chung, hiện nay chỉ còn 02 con chung như chị M trình bày là đúng. Khi ly hôn, anh và chị M đã thống nhất mỗi người nuôi một con chung, anh nuôi con chung thứ nhất là cháu Trần Đình Bảo T1; giao chị M nuôi trực tiếp nuôi con chung thứ hai là cháu Trần Đình Đ.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh và chị M đã thống nhất được mỗi người nuôi một con chung nên không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với mỗi bên.
Về tài sản chung: Vợ chồng chung sống không tự tạo lập được tài sản chung mà nhà đất đều có nguồn gốc do bố mẹ đẻ anh (ông X, bà T) tặng cho và làm nhà trên đất cho các con ở. Cụ thể: thửa đất 498a, tờ bản đồ số 55, diện tích 950m², trong đó có 300m² đất ở và 650m² đất vườn. Anh và chị M đã được UBND huyện P (nay là thành phố P) cấp giấy chứng nhận QSD đất số BU 824509 do UBND huyện (nay là thành phố P) cấp ngày 21/8/2014 mang tên hai vợ chồng là Bùi Văn Q1 và Trần Thị M1.
Về tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4 và 04 gian phòng trọ.
Tại quá trình hòa giải anh đề nghị được sử dụng toàn bộ tài sản chung vợ chồng gồm đất, tài sản trên đất và trích chia cho chị M1 số tiền 300.000.000đ. Chị M1 không đồng ý. Anh xác định bố mẹ cho vợ chồng đất, nên là tài sản chung anh cũng đồng ý với đề nghị chia bằng hiện vật cho chị M1. Tuy nhiên, chị M1 bỏ đi từ năm 2014 đến nay không có đóng góp công sức duy trì khối tài sản chung vợ chồng, anh chỉ đồng ý tách chia cho chị M1 khoảng 200m² đất ở và đất vườn, không đồng ý trích chênh lệch bằng tiền do đã trình bầy như trên. Về việc chị M1 cho rằng bố mẹ đẻ cho 200.000.000đ làm nhà hoàn toàn không có, nhà đất đều của bố mẹ anh là ông X, bà T đóng góp xây dựng, ngoài hiện vật anh là người trực tiếp xây dựng nhà bởi anh là thợ xây.
Về khoản nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình X, bà Hà Thị T trình bày tại bản tự khai và tại phiên tòa:
Ông bà xây dựng gia đình cho anh Q1, chị M1 năm 2009, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó chị M1 về làm dâu, ở chung cùng với gia đình ông bà. Đến năm 2012, ông bà cắt đất cho hai con ra ở riêng và làm nhà cho các con ở. Đến năm 2014 anh Q1, chị M1 mới được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Khi cho đất các con ông không nghĩ các con phải ly tán như vậy. Đối với việc ly hôn của các con là chuyện tình cảm, do hai con tự quyết định, ông bà không có ý kiến tham gia.
Về tài sản chung của anh Q1, chị M1: Nguồn gốc thửa đất 498a, tờ bản đồ 55 là của ông bà cắt tặng cho anh chị vào năm 2012, diện tích 950m² trong đó có 300m² đất ở, còn lại là đất vườn tạp. Nhà anh chị ở cũng là do ông bà làm cho gia đình vợ chồng, con cái anh Q1, chị M1 ở. Mục đích cho là để các con ở chung với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Mặc dù khi làm hợp đồng tặng cho các con, ông là chủ hộ tự ý ký tên bà T, bà T không ký nhưng cũng biết và không phản đối vì nghĩ chỉ cho con để ở nên ông bà cũng xác định là tài sản của các con.
Quá trình hoà giải, chị M1 có ý kiến để lại toàn bộ tài sản đất, nhà cho anh Q1 sử dụng, anh Q1 trích chia cho chị M1 350.000.000đ là quá sức với điều kiện kinh tế của gia đình ông, bà. Đến nay chị M1 và anh Q1 không ở cùng nhau nữa, quyết định ly hôn, đề nghị Toà án căn cứ vào nguồn gốc đất, công sức đóng góp vào khối tài sản chung để phân chia cho phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Ông, bà cũng đồng ý tách cho chị M1 bằng hiện vật là QSD đất diện tích 200m2 đất ở phía sau giáp với thửa đất số 498b của anh K (là con trai của ông, bà và là anh trai anh Q1), bởi phần diện tích đất không thể chia theo chiều dọc, hơn nữa chị M1 không đóng góp gì. Toàn bộ nhà anh Q1 và chị M1 ở gia đình ông đóng góp công sức và tiền của xây dựng nên.
Ý kiến trình bày của Trần Văn K, chị Hà Thị C tại bản tự khai:
Về mối quan hệ gia đình, anh chị là anh trai và là chị dâu của anh Trần Văn Q.
Năm 2012, bố mẹ anh là ông Trần Đình X và bà Hà Thị T có tách cho vợ chồng anh diện tích đất 1300m² tại thửa 498b, tờ bản đồ số 55. Anh chị đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích đất trên. Việc tách cho chủ yếu trên giấy tờ, còn thực tế vợ chồng anh vẫn đang ở chung cùng với bố mẹ do bố mẹ anh quản lý. Theo kết quả đo đạc của Toà án đối với thửa đất mang tên anh Q, chị M1 tại thửa 498a, trong đó có một phần diện tích đất tại thửa 498b của vợ chồng anh. Anh và chị C xác định anh Q, chị M1 có sử dụng sang thửa đất 498b của vợ chồng anh là 26,5m². Phần diện tích đất này có một phần nhà trọ của chị M1, anh Q xây lấn sang.
Quan điểm của anh là gia đình anh không có tranh chấp gì với anh Q, chị M1 về phần diện tích đất trên. Nhất trí cho anh Q, chị M1 sử dụng phần đất 26,5m². Trường hợp tách chia QSD đất cho anh Q hoặc chị M1 anh cũng đồng ý cho anh Q, chị M1 sử dụng một phần diện tích đất của vợ chồng anh là 26,5m².
Về yêu cầu chia tài sản chung của chị M1, đề nghị Toà án căn cứ vào nguồn gốc đất, công sức đóng góp của các bên để phân chia cho hợp lý, hợp tình, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình.
Biên bản xem xét thẩm định, định giá ngày 04/7/2023 thể hiện:
Về đất: đất thuộc thửa 498a, tờ bản đồ số 55, diện tích đất 950m²( trong đó có 300m² đất thổ cư và 650m² đất trồng cây lâu năm). Vị trí đất tại TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận QSD đất số BU 824509 do UBND huyện (nay là thành phố P) cấp ngày 21/8/2014 mang tên Trần Văn Q và Bùi Thị M. Diện tích theo đo đạc thực tế: 876,9m².
Đơn giá đất thổ cư: 550.000đ/m²
Đất trồng cây lâu năm liền thửa đất ở: 275.000đ/m2
Tổng giá đất: 323.647.500₫ (Ba trăm hai mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi bẩy nghìn năm trăm đồng).
(Tại thời điểm định giá, địa phương không có giao dịch thực tế nên không xác định được đơn giá thị trường nên đơn giá đất được áp dụng theo QĐ số 46/2019/QĐ- UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh T về phê duyệt bảng giá các loại đất trên đại bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2020 – 2025).
Tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4 xây gạch 220, mái lợp tôn xây dựng năm 2012, diện tích: 60m², trị giá: 83.216.000đ; 01 nhà bếp xây gạch 110, mái lợp Fibro xi măng, trong đó có 1 bức tường mượn, xây dựng năm 2012, diện tích: 20m2, trị giá: 7.851.000đ; 01 nhà kho mái tôn hệ, khung thép xây gạch 110, bổ cột 220, xây dựng năm 2014. Diện tích 123,2m², trị giá: 148.000.000đ (một trăm bốn mươi tám triệu). Tổng giá trị tài sản trên đất: 239.067.000₫ (Hai trăm ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng).
Trên đất còn 01 khối tường xây gạch 220, cao 4m, thể tích 40,48m³, anh Q, chị M xác định không phải là tài sản chung vợ chồng, không đề nghị định giá để phân chia.
Tổng giá trị tài sản chung vợ chồng: 562.714.500đ (Năm trăm sáu mươi hai triệu bẩy trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng).
Với nội dung trên, tại bản án số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, đề nghị nuôi con chung, chia tài sản chung của chị Bùi Thị M với anh Trần Văn Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M được ly hôn anh Trần Văn Q.
- Về con chung: Giao con chung thứ hai Cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 12/02/2013, cho chị Bùi Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác; giao con chung thứ nhất: cháu Trần Đình Bảo T1, sinh ngày 07/12/2010 cho anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi người đều được giao quyền nuôi dưỡng 01 con chung, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với mỗi bên cho đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung:
- 3.1. Giao cho chị M được quyền sử dụng diện tích đất 211,3m² (150m² đất ở và 61,3m² đất trồng cây lâu năm), trong đó có 184,8 m² đất tại thửa 498a, tờ bản đồ số 55, giấy chứng nhận QSD đất mang tên anh Q, chị M do UBND huyện P cấp năm 2014; diện tích 26,5 m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 498b, tờ bản đồ 55 (giấy chứng nhận QSD đất mang tên anh K, chị C). Vị trí đất thuộc TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Giá trị đất ở = 82.500.000đ; đất trồng cây lâu năm = 16.857.500đ. Tổng giá trị đất = 99.357.500đ (Chín mươi chín triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Theo sơ đồ phân chia có vị trí số 1 kèm theo bản án.
- - Tài sản trên đất: giao cho chị M được quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà kho mái tôn hệ, khung thép xây gạch 110, bổ cột 220, xây dựng năm 2014. Diện tích 123,2m². Trị giá nhà: 148.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi tám triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản chị M được hưởng: 247.357.500đ (Bằng chữ: Hai trăm bốn mươi bẩy triệu ba trăm năm bảy triệu năm trăm đồng)..
- 3.2. Giao cho anh Q được quyền sử dụng diện tích đất 665,6m² (trong đó có 150m² đất thổ cư, 515,6m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa 498a, tờ bản đồ số 55, giấy chứng nhận QSD đất mang tên anh Q, chị M do UBND huyện P cấp năm 2014. Vị trí đất thuộc TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Giá trị đất ở = 82.500.000đ (Bằng chữ: Tám mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng); đất trồng cây lâu năm = 141.790.000đ (Một trăm bốn mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng)
Tổng giá trị đất = 224.290.000₫ (Bằng chữ: Hai trăm hai mươi bốn triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng). Theo sơ đồ phân chia có vị trí số 2 kèm theo bản án.
- - Tài sản trên đất: giao cho anh Q được quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà cấp 4 xây gạch 220, mái lợp tôn xây dựng năm 2012, diện tích: 60m², trị giá: 83.216.000đ; 01 nhà bếp xây gạch 110, mái lợp Fibro xi măng, trong đó có 1 bức tường mượn, xây dựng năm 2012, diện tích: 20m², trị giá: 7.851.000đ; giá trị công trình xây dựng trên đất: 91.067.000đ (Bằng chữ: Chín mươi mốt triệu không trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản anh Q được hưởng là: 315.357.000₫ (Bằng chữ: Ba trăm mười lăm triệu ba trăm năm mươi bẩy nghìn đồng).
Anh Q không phải có nghĩa vụ trích trả chênh lệch về tài sản cho chị M
Chị M, anh Q có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động về đất đai, thực hiện quyền sở hữu nhà và các tài sản gắn liền trên đất theo quy định đối với thửa đất được chia theo bản án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2023 (theo dấu công văn đến của Toà án nhân dân thành phố P ngày 26/10/2023) nguyên đơn Bùi Thị M có đơn kháng cáo một phần bản án ly hôn sơ thẩm số 34 ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên về quyết định phân chia tài sản chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 26/02/2024, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xem xét thẩm định lại để xác định rõ đường đi chung vào phần đất chia cho chị M và không nhất trí phân chia tài sản chung như quyết định của bản án sơ thẩm.
Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa, thu thập toàn bộ hồ sơ cấp đất của thửa 498, 498a, 498b tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và tiến hành xem xét thẩm định lại để làm rõ diện tích, kích thước cụ thể đường đi chung đối với thửa 498a và 498b. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/4/2024 (đo bằng máy) đã xác định diện tích đường đi chung theo hồ sơ cấp đất đối với thửa đất 498a của chị M và anh Q có diện tích 200m² có kích thước theo bản vẽ hiện trạng tại các điểm là: B,C, D,P, O,N, M, L, B.
Về diện tích đất thực tế anh Q và chị M đã sử dụng và xây dựng công trình là 950m², ghép với hồ sơ cấp đất của anh Q và chị M theo bản đồ địa chính là căn cứ cấp đất cho anh Q và chị M thì không có sự chồng lấn sang thửa đất 498b của gia đình anh K, chị C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M đề nghị Hội đồng xét xử xác định rõ đường đi chung vào phần đất chia cho chị M và chia tài sản cho chị M đảm bảo quyền và lợi ích cho chị M.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308, và Điều 309; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị M. Sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Chị M không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Bùi Thị M làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của chị M, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị M, anh Q đều xác định tài sản chung vợ chồng gồm có: đất thuộc thửa 498a, tờ bản đồ số 55, diện tích đất 950m²( trong đó có 300m² đất thổ cư và 650m² đất trồng cây lâu năm). Vị trí đất tại tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, theo giấy chứng nhận QSD đất số BU 824509 do UBND huyện (nay là thành phố P) cấp ngày 21/8/2014 mang tên Trần Văn Q và Bùi Thị M. Anh Q cũng thống nhất tài sản có nguồn gốc của bố mẹ đẻ anh Q cho vợ chồng và là tài sản chung.
Diện tích theo đo đạc thực tế: 950m². Tài sản trên đất gồm 01 nhà cấp 4 xây gạch 220, mái lợp tôn xây dựng năm 2012, diện tích: 60m²; 01 nhà bếp xây gạch 110, mái lợp phiproximăng, trong đó có 1 bức tường mượn, xây dựng năm 2012, diện tích: 20m²; 01 nhà kho mái tôn hệ, khung thép xây gạch 110, bổ cột 220, xây dựng năm 2014. Diện tích 132m²
Giá trị tài sản là: Về đất: đất thuộc thửa 498a, tờ bản đồ số 55, diện tích đất 950m² (trong đó có 300m² đất thổ cư và 650m² đất trồng cây lâu năm). Vị trí đất tại TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đất ở có giá 550.000 đồng/1m² x 300m² = 165.000.000 đồng. Đất trồng cây lâu năm liền thửa đất ở có giá 275.000 đồng x 650m² = 178.750.000 đồng. Giá trị tài sản trên đất: 239.067.000₫ (Hai trăm ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản chung vợ chồng (đất+ tài sản trên đất) là 582.817.000đồng.
Về diện tích đường đi chung, sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ lại đã xác định đường đi chung vào thửa đất 498a của anh Q và chị M và vào thửa 498b của gia đình anh K chị C có diện tích 200m² có kích thước theo bản vẽ hiện trạng tại các điểm là: B,C, D,P, O,N, M, L, B.
Về diện tích đất thực tế anh Q và chị M đã xây dựng là 950m², ghép với hồ sơ cấp đất của anh Q và chị M theo bản đồ thì không có sự trồng lấn sang thửa đất 498b của gia đình anh K, chị C.
Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ cấp đất của anh Q và chị M, từ đó dẫn đến tiến hành xem xét thẩm định, đo vẽ chưa đúng với hồ sơ cấp đất của anh Q và chị M, chưa xác định kích thước, diện tích đường đi chung nên việc phân chia tài sản cho chị M và anh Q chưa được đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị M sửa một phần bản án ly hôn sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên về tài sản chung:
Giao cho chị M được quyền sử dụng diện tích đất tại vị trí 1 trên bản vẽ hiện trạng là 285,2m² (150m² đất ở và 135,2m² đất trồng cây lâu năm), tại thửa 498a, tờ bản đồ số 55, giấy chứng nhận QSD đất giấy CNQSD đất mang tên anh Q, chị M do UBND huyện P cấp năm 2014; Vị trí đất thuộc TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên tại vị trí số (1) C, D, E, F, G, C. Giá trị đất ở = 82.500.000đ; đất trồng cây lâu năm 37.180.000 đồng. Tổng giá trị đất 119.680.000 đồng
- Tài sản trên đất: giao cho chị M được quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà kho mái tôn hệ, khung thép xây gạch 110, bổ cột 220, xây dựng năm 2014. Diện tích 123,2m². Trị giá nhà: 148.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi tám triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản chị M được hưởng: 267.680.000 đồng
Giao cho anh Q được quyền sử dụng diện tích đất 664,8m² (trong đó có 150m² đất thổ cư, 514,8m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa 498a, tờ bản đồ số 55, giấy chứng nhận QSD đất mang tên anh Q, chị M do UBND huyện P cấp năm 2014. Vị trí đất thuộc TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên tại vị trí số (2) là là A, B, C, G, H, I, K, A. Giá trị đất ở = 82.500.000₫ (Bằng chữ: Tám mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng); đất trồng cây lâu năm = 141.570.000đ (Một trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng)
Tổng giá trị đất = 224.070.000₫ (Bằng chữ: Hai trăm hai mươi bốn triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Theo sơ đồ phân chia có vị trí số 2 kèm theo bản án.
- Tài sản trên đất: giao cho anh Q được quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà cấp 4 xây gạch 220, mái lợp tôn xây dựng năm 2012, diện tích: 60m2, trị giá: 83.216.000đ; 01 nhà bếp xây gạch 110, mái lợp Fibro xi măng, trong đó có 1 bức tường mượn, xây dựng năm 2012, diện tích: 20m², trị giá: 7.851.000đ; giá trị công trình xây dựng trên đất: 91.067.000đ (Bằng chữ: Chín mươi mốt triệu không trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản anh Q được hưởng là: 315.137.000đ (Bằng chữ: Ba trăm mười lăm triệu một trăm ba mươi bẩy nghìn đồng).
Anh Q không phải có nghĩa vụ trích trả chênh lệch về tài sản cho chị M là có căn cứ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Chị M và anh Q được sử dụng đường đi chung có diện tích 200m² theo bản trích đo hiện trạng.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên chị M không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm chi phí hết 5.000.000 đồng, chị M tự nguyện chịu và đã thực hiện xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm, do giá trị tài sản chung của chị M và anh Q được chia có thay đổi so với bản án sơ thẩm do vậy cần sửa án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ -ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Bùi Thị M.
Sửa phần quyết định về Tài sản chung tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ -ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 33, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 57, Điều 59, Điều 62 và Điều 63, Điều 81, 82, 83, 84 và 131, Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014; Các Điều 95, Điều 99 và Điều 100 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Về tài sản chung:
- Giao cho chị M được quyền sử dụng toàn bộ tài sản gồm 01 nhà kho mái tôn hệ, khung thép xây gạch 110, bổ cột 220, xây dựng năm 2014 có diện tích 123,2m² xây dựng trên diện tích đất là 285,2m². Trong đó có 150m² đất ở và 135,2m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 498a, tờ bản đồ số 55 tại vị trí số (1) là C, D, E, F, G, C. Đã có giấy chứng nhận QSD đất mang tên Trần Văn Q và Bùi Thị M do UBND huyện P cấp ngày 21/8/2014, vị trí đất thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Tổng giá trị tài sản chị M được hưởng: 267.680.000 đồng (hai trăm sáu mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng)
- Giao cho anh Q được quyền sử dụng 01 nhà cấp 4 xây gạch 220, mái lợp tôn xây dựng năm 2012, diện tích: 60m², 01 nhà bếp xây gạch 110, mái lợp Fibro xi măng, trong đó có 1 bức tường mượn, xây dựng năm 2012, diện tích: 20m² trên diện tích đất 664,8m², trong đó có 150m² đất thổ cư, 514,8m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 498a, tờ bản đồ số 55 tại vị trí số (2) là A, B, C, G, H, I, K, A. Đất đã có giấy chứng nhận QSD đất mang tên Trần Văn Q và Bùi Thị M do UBND huyện P cấp ngày 21/8/2014, vị trí đất thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Tổng giá trị tài sản anh Q được chia là : 315.137.000đ (Bằng chữ: Ba trăm mười lăm triệu một trăm ba mươi bẩy nghìn đồng).
Anh Q không phải có nghĩa vụ trích trả chênh lệch về tài sản cho chị Mai Anh Quyết và chị M được quyền sử dụng đường đi chung có diện tích là 200m² kích thước theo bản vẽ hiện trạng tại các điểm là: B,C, D, P, O, N, M, L, B. Có sơ đồ kèm theo.
Chị M, anh Q2 có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động về đất đai, thực hiện quyền sở hữu nhà và các tài sản gắn liền trên đất theo quy định đối với thửa đất được chia theo bản án.
- Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Bùi Thị M không phải chịu án phí phúc thẩm được trả lại 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001345 ngày 30/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Về án phí dân sự sơ thẩm. Anh Q2 phải chịu 15.756.850 đồng (mười lăm triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi đồng)
Chị M phải chịu 13.384.000 đồng (mười ba triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 4.050.000đ, theo biên lai thu số 0001475 ngày 11/5/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố P. Chị M còn phải nộp tiếp số tiền là 9.334.000 đồng (chín triệu ba trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
- Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Việc chi phí thẩm định, định giá tài sản và đo đất: Chị M, anh Q2 cùng phải chịu chi phí số tiền 12.000.000₫, (trong đó: 8.000.000đ tiền đo đất, 4.000.000đ tiền xem xét thẩm định, định giá tài sản). Mỗi người phải chịu 6.000.000₫ (sáu triệu đồng). Chị M đã nộp tạm ứng số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu), anh Q2 có trách nhiệm trả cho chị M 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm (xem xét thẩm định lại) chị M tự nguyện nộp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Đã thực hiện xong.
Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ -ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung vợ chồng
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung vợ chồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị M và Trần Văn Q
