|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 15 /2024/HS-ST Ngày: 28/6/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lưu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thạch
Bà Phùng Thị Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Ông Dương Văn Năm - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại phòng xét xử án hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 15/03/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tiến T (tên gọi khác: T1), sinh ngày: 30/01/1975 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: TDP G, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Tiến H (đã chết) và bà Lê Thị T2; vợ: Nguyễn Thị H1 và 03 con: lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 09 tuổi; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- - Ngày 04/01/2006, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải.
- - Ngày 18/11/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 115/HSPT.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Minh T3, sinh ngày: 10/7/1979 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Minh C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T4; vợ: Nguyễn Thị Nhật L; có 03 con: lớn nhất 19 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 27/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 26/2021/HS-ST; nhân thân:
- - Ngày 26/9/1998, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
- - Ngày 17/5/2011, bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng và Cố ý gây thương tích.
- - Ngày 17/9/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 10/7/2023, tại đường P thuộc Tổ dân phố C, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ bắt quả tang Nguyễn Minh T3 đang có hành vi tàng trữ 01 túi nilon bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng, T3 khai nhận là ma tuý loại hồng phiến. Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Minh T3 tại thôn T, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, T3 đã tự nguyện giao nộp 01 (một) túi nilon bên trong chứa 139 viên nén hình tròn màu hồng. Về nguồn gốc số ma túy nói trên, Nguyễn Minh T3 khai nhận vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Minh T3 đến nhà của Nguyễn Tiến T, sinh năm 1975, trú tại Tổ dân phố G, phường B, thành phố Đ để mua với giá 4.000.000 đồng. Sau đó, T3 đưa ma túy về nhà cất giấu, đến tối ngày 10/7/2023, T3 lấy 10 viên ma tuý đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang.
Ngày 11/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến T tại Tổ dân phố G, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Quá trình khám xét, T tự nguyện giao nộp 01 túi nilon bên trong chứa 420 viên nén hình tròn màu hồng, T khai nhận là ma túy hồng phiến do T cất giấu để bán cho người khác nhằm kiếm lời.
Về nguồn gốc số ma túy nói trên, Nguyễn Tiến T khai nhận: Vào cuối tháng 5/2023, thông qua các mối quan hệ xã hội T tình cờ có được số điện thoại một nam thanh niên trú tại tỉnh Quảng Trị có bán ma túy loại hồng phiến (T không biết rõ thông tin, lai lịch và chưa từng gặp mặt). Đầu tháng 6/2023, Nguyễn Tiến T sử dụng sim rác liên lạc với nam thanh niên hỏi mua ma túy, người này đồng ý bán cho T 6.000 viên ma tuý loại hồng phiến với giá 75.000.000 đồng và hẹn 02 ngày sau sẽ giao ma túy tại nhà của T. Vào khoảng 22 giờ 00 phút một ngày đầu tháng 6/2023 (T không nhớ rõ ngày), có một người thanh niên đến giao ma tuý cho T và nhận tiền mặt. Sau đó, T chia nhỏ số ma tuý bán cho Nguyễn Minh T3 01 túi nilon bên trong chứa khoảng 150 viên ma tuý loại hồng phiến với giá 4.000.000 đồng và bán cho một số đối tượng không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Số ma túy T đã bán do không kiểm đếm, không xác định được khối lượng nên không có cơ sở xử lý.
Ngày 18/7/2023, Phòng K Công an tỉnh Q có Kết luận giám định số 765/KL-KTHS, kết luận:
- - 10 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ lúc bắt quả tang đối với Nguyễn Minh T3 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,917 gam.
- - 139 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ lúc khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Minh T3 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 12,928 gam.
- - 420 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ lúc khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Tiến T là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 38,951 gam.
Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ:
- - 01 (một) túi nilon bên trong chứa 10 (mười) viên nén hình tròn màu hồng (trong đó có 01 viên nén bị vỡ thành hai mảnh).
- - 01 (một) túi nilon bên trong chứa 139 (một trăm ba mươi chín) viên nén hình tròn màu hồng.
- - 01 (một) túi nilon bên trong chứa 420 (bốn trăm hai mươi) viên nén hình tròn màu hồng.
- - Tiền Ngân hàng N: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI 1: 865570055126359, số IMEI 2: 865570055126342, máy đã qua sử dụng.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,
Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKS-P1 ngày 01/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Minh T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đã xem xét đánh giá vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; các điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T mức án từ 11 đến 12 năm tù. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T và bị cáo T3 là người không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ; tịch thu sung công 10.000.000 (mười triệu) đồng tiền ngân hàng N và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO
Bị cáo T và bị cáo T3 nhất trí với toàn bộ nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất hối hận, xin hứa sẽ không phạm tội nữa. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đến mức có thể để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, hai bị cáo đã khai nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngày 09/7/2023, Nguyễn Tiến T đã có hành vi bán 149 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 13,845 gam cho Nguyễn Minh T3 với giá 4.000.000 đồng và cất giấu 420 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 38,951 gam nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời. Tổng số ma túy mà Nguyễn Tiến T đã mua bán trái phép là 569 viên ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 52,796 gam. Nguyễn Minh T3 đã có hành vi mua ma túy về để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T3 đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 13,845 gam. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của bị cáo, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Minh T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đúng như tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
[3] Xét tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện thấy: Bị cáo Nguyễn Tiến T và bị cáo Nguyễn Minh T3 là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên nhận thức và biết được các chất ma túy là loại gây nghiện nguy hiểm, là mặt hàng mà Nhà nước độc quyền quản lý để nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng ma túy, bảo vệ sức khỏe của người dân và ngăn ngừa các tội phạm về ma túy, cho nên mọi hành vi mua bán, cất giữ ma túy trái với quy định của pháp luật đều bị coi là tội phạm, nhưng do ý thức coi thường, bất chấp pháp luật các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài, có mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật nhằm đấu tranh, ngăn chặn triệt để tệ nạn ma tuý trên địa bàn.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Tiến T thực hiện hành vi thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nhưng quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo cũng đã tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm được phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q xác nhận tại công văn số 172/PC04 ngày 07/02/2024 bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan Công an, có trách nhiệm, tự nguyện cộng tác trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huy chương nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 nên cần áp dụng Điều 54 BLHS để cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nằm trong khung hình phạt liền kề của điều luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Đối với bị cáo Nguyễn Minh T3: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bản thân bị cáo đang có 01 tiền án về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản nhưng chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại không lấy đó để làm gương, vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh T3 đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, được Nhà nước trao tặng nhiều huân huy chương là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Tiến T và Nguyễn Minh T3 là người không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ;
- - Đối với tiền Ngân hàng N: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) là số tiền mà Nguyễn Tiến T bán ma túy mà có được nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI 1: 865570055126359, số IMEI 2: 865570055126342, máy đã qua sử dụng là phương tiện liên lạc mua bán ma túy của bị cáo Nguyễn Tiến T nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tiến T và Nguyễn Minh T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Minh T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; Điều 38, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/7/2023.
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/7/2023.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Tiến T và bị cáo Nguyễn Minh T3 với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Tiến T và Nguyễn Minh T3.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “765/KL-KTHS”, niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dín trong suốt.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- - Tiền Ngân hàng N: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo ủy nhiệm chi ngày 12/3/2024.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI 1: 865570055126359, số IMEI 2: 865570055126342, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
5. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử buộc bị cáo Nguyễn Tiến T và bị cáo Nguyễn Minh T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tiến T và bị cáo Nguyễn Minh T3 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Võ Bá Lưu |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến T 12 năm . Nguyễn Minh T3 6 năm
