Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày: 28 - 5 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thịnh và ông Đậu Cao Nhu.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hà Đức Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2023/TLST-DS, ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-DS ngày 04/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/QĐ-TA ngày 14/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Hồ Hữu L, sinh năm 1984 – Có mặt.
  • Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995 – Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  • - Người làm chứng: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1989 – Vắng mặt.
  • Nơi cư trú tại: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/8/2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hồ Hữu L trình bày: Ngày 15/3/2022, anh Hồ Hữu L ký hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với chị Nguyễn Thị T. Theo nội dung hợp đồng thì anh L đặt cọc cho chị T, anh T2 300.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng các lô đất số 8, lô số 9, lô số 10; diện tích mỗi lô là 7m x 27m. Kèm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 381188, địa chỉ các lô đất tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Theo thỏa thuận của các bên thì chị T, anh T2 chuyển nhượng cho anh L toàn bộ 03 lô đất thuộc thửa đất trên với giá 1.240.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi triệu đồng). Trên thực tế thì chỉ có một mình chị T ký và nhận tiền đặt cọc. Khi ký hợp đồng đặt cọc, chị T cam kết các lô đất này không tranh chấp, không trong diện quy hoạch, các tài sản này thuộc quyền sở hữu của chị T, anh T2, đồng thời cam kết đổ đường bê tông 3,5m2, phía trong 5m2. Khi các bên ký hợp đồng đặt cọc có mặt của anh Lê Văn T1 là người làm chứng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh L liên hệ với chị T để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên các lô đất trên thuộc quyền sở hữu của ông Hồ Đình C, chị T và anh T2 mua toàn bộ thửa đất trên của ông Hồ Đình C tuy nhiên chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T2 và chị T nên không thể làm thủ tục chuyển nhượng sang tên được. Theo hợp đồng đặt cọc, thời hạn đặt cọc là 03 tháng, kể từ ngày 15/3/2022 đến ngày 15/6/2022. Anh L đã giao tiền cho chị T và chị T đã nhận đủ số tiền cọc 300.000.000 đồng. Chị T có nghĩa vụ cùng với anh L làm thủ tục công chứng, làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 lô đất nói trên cho anh L tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên kể từ khi nhận được tiền đặt cọc đến nay, chị T không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 lô đất nói trên cho anh L như đã thỏa thuận trong hợp đồng là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh L.

Anh L đã nhiều lần liên hệ với chị T thông báo về việc chị T vi phạm hợp đồng đặt cọc, đồng thời yêu cầu chị T trả lại số tiền 300.000.000 đồng mà anh đã đặt cọc nhưng chị T không trả. Sau đó anh T2 chồng chị T đã chuyển khoản trả 40.000.000 đồng tiền cọc cho anh L.

Nay anh L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị Nguyễn Thị T phải trả lại số tiền đặt cọc còn lại là 260.000.000 đồng và phạt cọc số tiền 300.000.000 đồng; tổng số tiền chị T phải trả cho anh L là 540.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh L trình bày bổ sung: Nay anh Hồ Hữu L xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đó là không yêu cầu phạt cọc số tiền 300.000.000 đồng đối với chị Nguyễn Thị T.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Hữu L về việc buộc chị Nguyễn Thị T phải trả lại tiền cọc đã nhận 260.000.000đ (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).

- Tại bản tự khai ngày 19/12/2023 bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Ngày 15/3/2022 chị T và anh Hồ Hữu L có ký hợp đồng đặt cọc để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các lô đất số 8, lô đất số 9, lô đất số 10 tại xóm D, xã Q, huyện Q của chị T và anh T2. Trên hợp đồng đặt cọc có tên của anh Lê Văn T3, tuy nhiên trên thực tế chị T ký hợp đồng đặt cọc và nhận toàn bộ số tiền đặt cọc. Hợp đồng đặt cọc là mẫu đánh sẵn và chị T là người trực tiếp ghi nội dung. Khi ký hợp đồng đặt cọc có anh Lê Văn T1, sinh năm 1989 trú tại thôn A, xã Q là người làm chứng.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 15/3/2022 thì chị T nhận tiền cọc là 300.000.000 đồng sau đó chị T sẽ làm thủ tục chuyển nhượng 3 lô gồm lô số 8, 9, 10 có địa chỉ tại thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Diện tích mỗi lô dài 7m x 27m với tổng giá trị là 1.240.000.000 đồng. Anh L đặt cọc để mua 03 lô đất trên với tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Chị T đã nhận đủ số tiền đặt cọc. Số tiền còn lại là 940.000.000 đồng, anh L tiếp tục thanh toán khi hai bên thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo hợp đồng, thời hạn đặt cọc là 03 tháng tính từ ngày 15/3/2022 đến ngày 15/6/2022. Phí và lệ phí chị T có nghĩa vụ đóng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, thỏa thuận việc phạt cọc gấp 02 lần số tiền anh L đã đặt cọc là 600.000.000 đồng.

Sau khi thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng đặt cọc thì chị T, anh L, người làm chứng đều trực tiếp ký và điểm chỉ đầy đủ.

Việc chị chưa làm thủ tục chuyển nhượng, giấy tờ là do trục trặc thủ tục nên chưa làm được.

Nay anh L khởi kiện chị đồng ý trả cọc số tiền 300.000.000 đồng. Hiện nay đã trả được 40.000.000 đồng còn phải trả 260.000.000 đồng và xin trả mỗi tháng 20.000.000 đồng.

- Quá trình giải quyết vụ án người làm chứng anh Lê Văn T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/02/2024 ông Hồ Đình C (người đang đứng tên thửa đất) trình bày: Ông sử dụng đất và được cấp bìa năm 1996, trên đất có một căn nhà. Đến năm 1998 ông chuyển đi sinh sống tại Đ thì cho bà Hồ Thị T4 (là em gái) thửa đất này nhưng không có giấy tờ. Khoảng năm 2020-2021 ông có ủy quyền cho anh Hồ Đình H, sinh năm 1997 trú tại xóm D, xã Q, huyện Q thay mặt ông đứng ra chuyển nhượng đất. Thông tin về thửa đất ông không nhớ vì ông đã giao toàn bộ giấy tờ cho anh Hồ Đình H. Sau đó anh H đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ai thì ông không nắm được. Hiện nay người mua đã chuyển nhượng cho người khác phát sinh tranh chấp thì ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/3/2024 anh Hồ Đình H trình bày: Vào khoảng đầu năm 2021, ông Hồ Đình C có làm giấy ủy quyền cho anh để làm thủ tục bán đất cho ông C. Đến tháng 11/2021 anh có ký hợp đồng đặt cọc với anh Lê Văn T3, sinh năm 1992 trú tại xóm A, xã Q để chuyển nhượng toàn bộ thửa đất của ông C. Anh T5 đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng thửa đất là 880.000.000 đồng. Anh chỉ ký hợp đồng đặt cọc mà không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh T5. Sau đó anh và anh T5 tiến hành ký hợp đồng ủy quyền với nội dung anh ủy quyền cho anh T5 đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hồ Đình C từ bản đồ 299 sang bản đồ số. Sau khi cấp giấy chứng nhận mang tên ông C theo bản đồ số thì anh T5 làm thủ tục sang tên cho anh T5 mà không cần hợp đồng chuyển nhượng đất từ anh H với anh T5 hoặc từ ông C với anh T5. Nay anh không nắm được anh T5 và chị T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa. Việc tranh chấp giữa anh L và chị T anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại lời khai của bà Hồ Thị T4 thể hiện: Bà Hồ Thị T4, sinh năm 1965 trú tại xóm D, xã Q là em gái của ông Hồ Đình C. Đất ở của ông C được cấp bìa vào năm 1996 có địa chỉ tại xóm D, xã Q. Đến năm 1998 gia đình ông C chuyển vào tỉnh Đăk Lăk để sinh sống và cho bà thửa đất của ông C. Tuy nhiên chưa làm thủ tục sang tên cho bà. Đến năm 2020-2021, ông C làm thủ tục ủy quyền cho con trai bà là Hồ Đình H đứng ra bán thửa đất này. Anh Hồ Đình H đã ký hợp đồng chuyển nhượng với anh T5, chị T với số tiền 900.000.000 đồng, anh T5 chị T đã giao tiền đầy đủ. Hiện nay bìa đỏ đã cấp cho anh T5 chị T hay chưa bà không rõ. Nay anh T5, chị T xảy ra tranh chấp với những người mua đất, bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Biên bản xác minh tại UBND xã Q thể hiện: Việc ông Hồ Đình C có ủy quyền cho anh Hồ Đình H làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T5, chị T không thì địa phương không rõ. Hồ sơ đất đai của UBND xã đang quản lý thể hiện ông Hồ Đình C, sinh năm 1962, trước đây cư trú tại thôn D, xã Q được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 381188 ngày 01/01/1996, số vào sổ X4-11. Theo sổ địa chính quyển số 02 trang 12, tại thôn D, xã Q thửa đất số 694, tờ bản đồ số 02, diện tích 890 m2. Theo sổ mục kê trang số 3, tờ bản đồ số 3 tại thôn D, xã Q thửa số 694, tờ bản đồ 02, diện tích 890m2. Theo bản đồ địa chính dạng số là thửa 327 tờ bản đồ số 05, diện tích 1.215,2m2 tại thôn D, xã Q, huyện Q. Hiện nay thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Đình C chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ số. Do chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ số nên ông Hồ Đình c chưa làm thủ tục chuyển nhượng đất cho người khác.

Công văn số 324/CV-CNVP ngày 06/5/2024 của Chi nhánh VPĐK Đất đai huyện Q thể hiện: Thửa đất 694, tờ bản đồ số 3 mang tên Hồ Đình C chưa được cấp đổi sang bản đồ số. Ông Hồ Đình C chưa làm thủ tục chuyện nhượng thửa đất nói trên cho anh Lê Văn T3 và chị Nguyễn Thị T. Chưa làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho anh Lê Văn T1.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa; Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng.

Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS, bị đơn, người làm chứng thực hiện chưa đầy đủ.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 147, 227 Bộ Luật tố tụng dân sự; Các Điều 117, Điều 123, Điều 131, Điều 328; Điều 357; Điều 407, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 118 Luật đất đai; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị:

  • - Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Đình chỉ yêu cầu phạt cọc số tiền 300.000.000 đồng.
  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Hữu L. Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 15/3/2022 vô hiệu toàn bộ.
  • Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền đặt cọc đã nhận còn lại là 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định.

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Nguyễn Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 35, 39, điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện.

Các bên ký kết hợp đồng đặt cọc vào ngày 15/3/2022. Ngày 12/9/2023 anh L nộp đơn khởi kiện về việc yêu cầu trả tiền cọc và yêu cầu phạt cọc. Căn cứ vào Điều 429 Bộ luật dân sự, yêu cầu của anh L còn trong thời hiệu khởi kiện.

[2] Về quan hệ tranh chấp.

Căn cứ các tài liệu có trong sơ vụ án cho thấy anh Hồ Hữu L khởi kiện yêu cầu chị T phải trả lại số tiền đặt cọc đã nhận là 300.000.000đ và phạt cọc 300.000.000đ, tổng số tiền là 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng). Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS.

[3] Về hiệu lực của hợp đồng đặt cọc.

Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ cho thấy, ngày 15/3/2022, anh L ký hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với chị Nguyễn Thị T đối với các lô đất chuyển nhượng là lô đất số 8, lô số 9, lô số 10 tại xóm D, xã Q của ông Hồ Đình C. Thỏa thuận anh L đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 15/3/2022 đến 15/6/2022. Chị T có nghĩa vụ thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông Hồ Đình C chưa chuyển nhượng thửa đất của các lô đất trên cho chị T, mặt khác ông C cũng không có ủy quyền cho chị T ký hợp đồng đặt cọc. Mặc dù hình thức của hợp đồng đặt cọc đảm bảo, nội dung của hợp đồng đặt cọc đã thực hiện nhưng chủ thể là chị T không được quyền nhận đặt cọc.

[4] Về đối tượng thực hiện.

Sau việc ký kết hợp đồng đặt cọc sẽ tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các lô đất số 8, 9, 10 thuộc xóm D, xã Q. Trên thực tế các lô đất này đang thuộc quyền sở hữu của ông Hồ Đình C. Thửa đất trên chưa làm thủ tục để chuyển nhượng cho ai, việc ông Hồ Đình C, anh Hồ Đình H và bà Hồ Thị T4 khai ông C cho bà Hồ Thị T4 là em gái thửa đất mang tên ông C, đồng thời ủy quyền cho anh H để tiến hành các thủ tục chuyển nhượng đất cho anh T3, chị T nhưng không cung cấp được các giấy tờ, tài liệu để chứng minh cho lời trình bày của mình là có cơ sở. Ngoài ra, anh H khai đã bán cho anh T3, chị T thửa đất mang tên ông Hồ Đình C và giao toàn bộ giấy tờ, tài liệu và ký hợp đồng ủy quyền cho anh T3 để làm các thủ tục chuyển nhượng, cấp đổi nhưng không cung cấp được tài liệu để chứng minh cho lời trình bày là có cơ sở. Do việc chuyển nhượng, tặng cho giữa ông Hồ Đình C và bà Hồ Thị T4 chưa được thực hiện theo các trình tự, thủ tục, điều kiện theo quy định nên chưa có hiệu lực. Mặc dù các bên giao kết hợp đồng tuy nhiên đối tượng không thể thực hiện được trên thực tế.

Căn cứ vào công văn 324/CV-CNVP ngày 06/5/2024 của Chi nhánh VPĐK Đất đai huyện Q thể hiện: Thửa đất 694, tờ bản đồ số 3 mang tên Hồ Đình C chưa được cấp đổi sang bản đồ số. Ông Hồ Đình C chưa làm thủ tục chuyện nhượng thửa đất nói trên cho anh Lê Văn T3 và chị Nguyễn Thị T. Chưa làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho anh Lê Văn T1.

Do đó hợp đồng đặt cọc giữa anh L và chị T vô hiệu về chủ thể.

[5] Về yêu cầu trả lại tiền cọc 300.000.000đ và phạt cọc 260.000.000₫

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu phạt cọc đối với chị T, yêu cầu chị T trả lại 260.000.000 đồng tiền cọc. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX chấp nhận.

Như vậy, hậu quả của Hợp đồng vô hiệu là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Chị T có nghĩa vụ hoàn trả cho anh L số tiền đặt cọc 260.000.000 đồng (số tiền sau khi trừ số tiền 40.000.000 đồng mà chị T đã trả).

[6] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26, 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, 147, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 117, 123, 131, 328, 357; 398, 400, 401, 403, 404, 407, 429, 503 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, 167 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đình chỉ yêu cầu phạt cọc số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Hữu L. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/3/2022 giữa anh Hồ Hữu L và chị Nguyễn Thị T vô hiệu. Buộc chị Nguyễn Thị T trả lại cho anh Hồ Hữu L số tiền đặt cọc 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Hoàn trả cho anh Hồ Hữu L số tiền tạm ứng án phí 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) mà anh L đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0005301 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của BLDS năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêucầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND h.Quỳnh Lưu;
  • - THADS huyện Quỳnh Lưu;

Hồ Sỹ Mạnh

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Anh Hồ Hữu L Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger