Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 27-9-2024

V/v “Chia tài sản chung

sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Thảo

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Nhân

Ông Lê Quang Ninh

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mến- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 07/2024/TB-TLVA ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Chia tài sản chung sau ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ D, ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. (có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:

Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tuấn A đã ly hôn theo Quyết định giải quyết số 01/2022/QÐST-HNGĐ ngày 01/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; khi ly hôn thì giữa bà T và ông Tuấn A có tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung nhưng không lập biên bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau. Nay giữa bà T và ông Tuấn A đã không tự thỏa thuận được nên bà T yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, cụ thể như sau:

  • - Đối với tài sản là thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước có nguồn gốc là của mẹ ông Tuấn A cho bà T và ông Tuấn A để xây nhà ở sau khi bà T và ông Tuấn A đã kết hôn; bà T và ông Tuấn A có đưa cho mẹ ông Tuấn A 01 cây vàng để nhận đất; khi cho thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến khi đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T và ông Tuấn A đều thống nhất là tài sản chung nên Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho bà T và ông Tuấn A. Trên đất hiện có 01 căn nhà cấp 4 và cây trồng trên đất. Đối với tài sản này bà T yêu cầu chia đôi và yêu cầu được nhận giá trị tài sản bằng tiền do hiện nay thửa đất này đang do ông Tuấn A quản lý sử dụng.

  • - Đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; đây là tài sản riêng của ông Tuấn A đã có trước khi kết hôn với bà T. Sau khi kết hôn bà T và ông Tuấn A đã cùng nhau sử dụng, canh tác trên thửa đất này nên các tài sản là cây trồng trên đất theo như Biên bản định giá ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản là tài sản chung của bà T và ông Tuấn A nên bà T yêu cầu chia đôi đối với các tài sản là cây trồng trên thửa đất này và yêu cầu nhận giá trị tài sản bằng tiền. Đối với đất bà T không yêu cầu chia vì đất là tài sản riêng của ông Tuấn A. Tuy nhiên, thửa đất này bà T cũng có công sức đóng góp tôn tạo, canh tác, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất nên bà T yêu cầu chia công sức đóng góp bằng 21% giá trị đất hiện tại theo biên bản định giá ngày 20/7/2023, cụ thể yêu cầu trả công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất với số tiền 280.000.000₫.

  • - Đối với chiếc xe mô tô hiệu HONDA SH Mode, biển kiểm soát 93C1-268.71 bà T yêu cầu chia đôi, bà T yêu cầu được nhận tài sản là hiện vật và trả cho ông Tuấn A một 1/2 giá trị chiếc xe theo biên bản định giá ngày 20/7/2023.

Các tài sản trên sau khi ly hôn bà T và ông Tuấn A có thỏa thuận để lại cho các con (thỏa thuận miệng) nhưng ông Tuấn A không làm thủ tục cho các con mà chiếm giữ nên không thực hiện được.

Ngoài ra không yêu cầu phân chia gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Tuấn A trình bày:

Năm 2022 khi ly hôn với bà T thì ông Tuấn A và bà T có tự thỏa thuận phân chia tài sản. Khi đó thỏa thuận đối với thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), trên đất có căn nhà để lại cho 02 con khi cả 02 con đủ 18 tuổi với điều kiện các con phải lo làm ăn, lao động thì mới cho. Đến nay thửa đất này chưa có phân chia. Nay bà T yêu cầu chia đối với thửa đất này thì ông Tuấn A không đồng ý, vì khi giải quyết ly hôn ông Tuấn A và bà T có thỏa thuận miệng với nhau là để lại thửa đất này và tài sản trên đất cho các con khi đủ 18 tuổi sẽ chia cho các con và có sự giám sát của cha mẹ.

Đối với thửa đất số 59, diện tích 11.733m², nguồn gốc đất là mẹ ông Tuấn A cho riêng ông Tuấn A; trên đất đã tồn tại các tài sản là cây trồng trên đất, gồm tiêu, điều và cà phê đều đang cho thu hoạch; sau khi cưới bà T, nhờ thu hoạch từ tài sản này mà có tiền nuôi con ăn học và xây dựng căn nhà hiện tại. Sau này cải tạo trồng mới lại là những cây trồng hiện tại trên thửa đất số 59. Bà T yêu cầu giá trị công sức tôn tạo, gìn giữ, cải tạo làm tăng giá trị đất với số tiền 280.000.000₫ (21% giá trị) thì ông Tuấn A không đồng ý.

Đối với các cây trồng trên đất này khi trồng thì vợ chồng bỏ tiền, công để trồng đối với các cây trồng trên đất chủ yếu là ông Tuấn A chăm sóc, bà T có xuống vườn thì cũng khoảng 4h chiều mới xuống, không có chăm sóc. Do vậy, đối với thửa đất số 59 này là tài sản của riêng ông Tuấn A.

Ông Tuấn A không đồng ý yêu cầu chia như bà T vì các bên đã thỏa thuận (miệng) là để lại tài sản cho các con sau này.

Đối với chiếc xe Honda SH MODE biển số 93C1-268.71 đứng tên bà T, hiện tại đang do bà T quản lý sử dụng nên ông Tuấn A đồng ý chia đối với tài sản này, ông Tuấn A đồng ý giao xe cho bà T quản lý, sử dụng và nhận ½ giá trị.

Ngoài ra không có yêu cầu khác.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã quyết định:

  • Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 157, 165, 217, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Áp dụng các điều 33, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc chia tài sản chung sau ly hôn.
  2. Giao cho ông Nguyễn Tuấn A toàn quyền quản lý sử dụng đối với thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện B (cũ) nay là huyện H cấp số: AH 608302 ngày 19/12/2008 (Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H-01550) đứng tên hộ ông Nguyễn Tuấn A và bà Phạm Thị T. Trên đất có: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 85m², kết cấu móng xây gạch bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch, mái lợp tôn, nền láng gạch men, sơn nước, cửa kính khung sắt; 01 nhà tắm riêng biệt; 01 mái che diện tích 68,25m²; 01 mái che diện tích 30.75m²; 01 sân bê tông diện tích 59.5m²; 01 hàng rào lưới B40 khung sắt diện tích 28,9m²; cửa cổng sắt diện tích 5,8m²; 07 cây dầu có đường kính 40cm; 06 cây điều trồng năm 2005.

    Buộc ông Nguyễn Tuấn A phải trả cho bà Phạm Thị T giá trị tài sản tương ứng 40% giá trị đất và ½ giá trị tài sản trên đất với số tiền là 288.390.876 (Hai trăm tám mươi tám triệu ba trăm chín mươi nghìn tám trăm bảy mươi sáu) đồng.

    - Giao cho ông Nguyễn Tuấn A toàn quyền quản lý sử dụng các tài sản có yêu cầu phân chia trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện H cấp số: BM 180142 ngày 30/10/2012 đất đứng tên hộ ông Nguyễn Tuấn A. Gồm: 200 cây cà phê 06 năm tuổi; 220 cây cao su trồng năm 2021; 60 cây sầu riêng 03 năm tuổi; 167 nọc tiêu 07 năm tuổi; 21 cây điều trồng năm 2020; 01 cây bơ 05 năm tuổi; 10 cây mít trồng năm 2020; 01 cây chôm chôm trồng năm 2020; 01 cây xoài trồng năm 2020.

    Buộc ông Nguyễn Tuấn A phải trả cho bà Phạm Thị T ½ giá trị tài sản trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 tại ấp P, xã T là 100.893.000 (Một trăm triệu tám trăm chín mươi ba nghìn) đồng và giá trị công sức đóng góp làm tăng giá trị đất, tương ứng 21% là 280.000.000 (Hai trăm tám mươi triệu) đồng.

    - Ông Nguyễn Tuấn A có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng, sở hữu tài sản được giao theo quy định.

    - Giao cho bà Phạm Thị T 01 xe máy hiệu HONDA loại SH MODE biển kiểm soát số 93C1-268.71 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tuấn A số tiền phân chia xe là 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.

  3. Đình chỉ yêu cầu phân chia 1000kg tiêu của bà Phạm Thị T.
  4. Về chi phí tố tụng:

    Bà Phạm Thị T phải chịu 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà T đã nộp.

    Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, do bà Phạm Thị T đã đóng tạm ứng chi phí tố tụng nên buộc ông Nguyễn Tuấn A trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng theo quy định.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Tuấn A kháng cáo bản án sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước với nội dung như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn bà Phạm Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn ông Nguyễn Tuấn A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • - Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
  • Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tuấn A; Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tuấn A làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tuấn A, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1.1] Đối với yêu cầu phân chia thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước và các tài sản trên đất.

Nguồn gốc thửa đất này do cha mẹ ông Tuấn A cho vợ chồng ông Tuấn A, bà T sau khi đã kết hôn, khi cho thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng đất thì ông Tuấn A và bà T cùng sử dụng, quản lý, xây dựng nhà ở trên đất và chung sống cho đến năm 2022 (khi này bà T và ông Tuấn A ly hôn). Đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Tuấn A và bà T thống nhất cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể hiện ý chí của các bên là đồng ý nhập tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Mặc dù đất có nguồn gốc là mẹ ông Tuấn A cho nhưng từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay không ai có ý kiến hay khiếu nại, thắc mắc gì. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì đây là tài sản chung của ông Tuấn A và bà T trong thời kỳ hôn nhân và được chia theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình là đúng quy định pháp luật.

Kháng cáo của Tuấn A yêu cầu được chia giá trị đất và tài sản trên đất theo tỷ lệ : Ông Tuấn A được 70%, bà T 30%. Tuy nhiên nhận thấy việc chia như Tòa án cấp sơ thẩm là đã căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 để tính đến nguồn gốc, công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Cụ thể, về công sức đóng góp cho việc hình thành tài sản này thì ông Tuấn A có công sức đóng góp nhiều hơn bà T nên Toà án cấp sơ thẩm tuyên chia cho ông Tuấn A phần giá trị tài sản nhiều hơn bà T, chia cho ông Tuấn A phần giá trị tài sản là 60%, chia cho bà T phần giá trị tài sản 40% là phù hợp. Do đó yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Tuấn A về phần này không được chấp nhận.

[2.1.2] Đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước có nguồn gốc là mẹ ông Tuấn A cho ông Tuấn A trước khi kết hôn với bà T. Ông Nguyễn Tuấn A trình bày khi cưới bà T, trên thửa đất này đã có các cây trồng gồm tiêu, điều và cà phê đang cho thu hoạch, ông Nguyễn Tuấn A và bà Phạm Thị T đều thừa nhận các tài sản là cây trồng trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 04 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước là tài sản ông Nguyễn Tuấn A và bà T tạo dựng sau khi vợ chồng đã kết hôn. Tuy nhiên, từ sự trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa cho thấy, trước khi kết hôn với bà T thì thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong quá trình ông Tuấn A và bà T sử dụng thì đất mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích sử dụng và quyền sử dụng đất đã có sự thay đổi, từ đó giá trị quyền sử dụng đất đã có sự tăng lên trong thời kỳ hôn nhân của ông Tuấn A và bà T. Việc tăng lên của giá trị đất tại thời điểm ông Tuấn A kết hôn với bà T như giá trị đất tại thời điểm hiện tại là một phần do công sức quản lý, sử dụng, cải tạo của vợ chồng, trong đó có việc sử dụng tiền chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện nghĩa vụ tài chính trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng tiền chung của vợ chồng trong việc cải tạo, thay đổi cơ cấu cây trồng, chăm sóc cây trồng. Vì vậy, cần xem xét về công sức đóng góp của bà T trong việc làm tăng giá trị đất là phù hợp.

Tuy nhiên kháng cáo của bị đơn ông Tuấn A cho rằng chia 21% giá trị đất, tương ứng 280.000.000 đồng là công sức tôn tạo, giữ gìn làm tăng giá trị đất cho bà T là chưa phù hợp mà chỉ đồng ý chia cho bà T 08% giá trị đất.

Hội đồng xét xử nhận thấy, theo điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”. Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho bà T theo tỷ lệ 21% (tương ứng với thời gian chung sống là 22 năm) là phù hợp với quy định pháp luật về Hôn nhân và gia đình, đã xem xét đầy đủ về nguồn gốc, công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập và phát triển khối tài sản chung. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Tuấn A về phần này không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Tuấn A phải chịu theo quy định.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Tuấn A;

Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 148, 157, 165, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 33, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc chia tài sản chung sau ly hôn.

  • - Giao cho ông Nguyễn Tuấn A toàn quyền quản lý sử dụng đối với thửa đất số 68 (số thửa mới hiện nay là 81), tờ bản đồ số 18, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện B (cũ) nay là huyện H cấp số: AH 608302 ngày 19/12/2008 (Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H-01550) đứng tên hộ ông Nguyễn Tuấn A và bà Phạm Thị T. Trên đất có: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 85m², kết cấu móng xây gạch bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch, mái lợp tôn, nền láng gạch men, sơn nước, cửa kính khung sắt; 01 nhà tắm riêng biệt; 01 mái che diện tích 68,25m²; 01 mái che diện tích 30.75m²; 01 sân bê tông diện tích 59.5m²; 01 hàng rào lưới B40 khung sắt diện tích 28,9m²; cửa cổng sắt diện tích 5,8m²; 07 cây dầu có đường kính 40cm; 06 cây điều trồng năm 2005.

    Buộc ông Nguyễn Tuấn A phải trả cho bà Phạm Thị T giá trị tài sản tương ứng 40% giá trị đất và ½ giá trị tài sản trên đất với số tiền là 288.390.876 (Hai trăm tám mươi tám triệu ba trăm chín mươi nghìn tám trăm bảy mươi sáu) đồng.

  • - Giao cho ông Nguyễn Tuấn A toàn quyền quản lý sử dụng các tài sản có yêu cầu phân chia trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 tại ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện H cấp số: BM 180142 ngày 30/10/2012 đất đứng tên hộ ông Nguyễn Tuấn A. Gồm: 200 cây cà phê 06 năm tuổi; 220 cây cao su trồng năm 2021; 60 cây sầu riêng 03 năm tuổi; 167 nọc tiêu 07 năm tuổi; 21 cây điều trồng năm 2020; 01 cây bơ 05 năm tuổi; 10 cây mít trồng năm 2020; 01 cây chôm chôm trồng năm 2020; 01 cây xoài trồng năm 2020.

    Buộc ông Nguyễn Tuấn A phải trả cho bà Phạm Thị T ½ giá trị tài sản trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 4 tại ấp P, xã T là 100.893.000 (Một trăm triệu tám trăm chín mươi ba nghìn) đồng và giá trị công sức đóng góp làm tăng giá trị đất, tương ứng 21% là 280.000.000 (Hai trăm tám mươi triệu) đồng.

  • - Ông Nguyễn Tuấn A có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng, sở hữu tài sản được giao theo quy định.

  • - Giao cho bà Phạm Thị T 01 xe máy hiệu HONDA loại SH MODE biển kiểm soát số 93C1-268.71 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tuấn A số tiền phân chia xe là 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.

Về chi phí tố tụng:

  • + Bà Phạm Thị T phải chịu 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà T đã nộp.
  • + Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, do bà Phạm Thị T đã đóng tạm ứng chi phí tố tụng nên buộc ông Nguyễn Tuấn A trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 9.835.500 (Chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng theo quy định.

Về án phí:

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

  • + Bà Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.491.355 (Ba mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng, được khấu trừ số tiền 7.750.000 (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng bà T đã nộp (theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014516 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước) nên bà Phạm Thị T còn phải nộp số tiền án phí sơ thẩm là 23.741.355 (Hai mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng.
  • + Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 26.059.172 (Hai mươi sáu triệu không trăm năm mươi chín nghìn một trăm bảy mươi hai) đồng.

- Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005299 ngày 20/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - TAND huyện Hớn Q;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Q;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ HCTP, T.GĐ&NCTN
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger