|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 15/2024/DS-ST Ngày 27-9-2024 V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Duy Viên;
Ông Nguyễn Hữu Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất (ngõ đi chung) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn G, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị P, sinh năm 1970; cùng nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1958; nơi cư trú: Khu F, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Ông Vũ Văn N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số H T, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Bà Vũ Thị Đ1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Ông Vũ Văn D, sinh năm 1962 và bà Lương Thị H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Bà Vũ Thị Thu H1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vũ Văn N2 và bà Vũ Thị L, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26-2-2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn (ông Vũ Văn T); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn (bà Vũ Thị Thu H1) thống nhất trình bày:
Thửa đất 1071, tờ bản đồ 9, diện tích 113m²; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện T là của bố mẹ ông T (ông Vũ Văn T1, bà Nguyễn Thị T2) đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận) số A0 885494, vào sổ cấp GCN số H02443 ngày 26-12-2006 hộ ông Vũ Văn T1, bà Nguyễn Thị T2; Văn phòng Đ5 Chi nhánh huyện T đăng ký biến động tặng cho ông Vũ Văn T, bà Vũ Thị Thu H1 ngày 18-02-2022. Thửa đất trên có phía Đông giáp đất ngõ xóm rộng 02m (nay mở rộng 03m); từ trước đến nay là ngõ đi chung ra đồng của các hộ dân trong làng. Sau này người dân không thường xuyên sử dụng ngõ đi này nữa nên chỉ có các hộ dân có đất giáp ngõ sử dụng. Năm 2018, vợ chồng ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P tự ý làm trụ cổng và cánh cổng ở đầu ngõ xóm, cản trở việc đi lại vào thửa đất của gia đình ông T. Vụ việc đã được UBND xã K hoà giải nhưng gia đình ông G không chấp hành.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của gia đình mình, ông T yêu cầu Toà án: Công nhận phần phần diện tích đất 36m² (gồm các mốc A, B, C, D trong sơ đồ hiện trạng) là ngõ đi chung của các gia đình có đất liền kề; buộc gia đình ông G, bà P phải tháo dỡ, di rời các tài sản (trụ cổng, cánh cổng, cột sắt, mái cổng...) đã xây dựng trái phép trên đất để trả lại hiện trạng ngõ đi chung cho các hộ gia đình.
Quá trình sử dụng, năm 2018 gia đình ông G đã dâng lập, tôn tạo ngõ đi này thành đường bê tông như hiện nay. Để thể hiện thiện chí của mình, ông T đồng ý thanh toán cho gia đình ông G phần đường bê tông, tường kè gạch ba banh có giá trị theo kết quả định giá là 14.179.831 đồng.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ông T đã nộp 7.700.000 đồng, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn (ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P) thống nhất trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp hiện nay giữa ông T và gia đình ông G là lối đi của gia đình các cụ ngoại ông G, có từ hàng trăm năm trước. Gia đình ông G xác định phần ngõ đi này là của riêng gia đình, không phải ngõ đi chung. Thửa đất của gia đình ông Vũ Văn T1 (bố ông T) trước đây là ao, vườn rau và sử dụng lối đi phía trước giáp đất thổ cư của các ông D, N2, không sử dụng lối đi tranh chấp. Từ trước đến nay chỉ có gia đình ông G quản lý, sử dụng, dâng lập, cải tạo phần ngõ đi này từ ngõ đất thành ngõ bê tông, lần gần nhất Nhà nước hỗ trợ 7 tấn xi măng; ngoài ra không có ai tham gia, đóng góp gì. Vợ chồng ông G xây dựng cổng tại vị trí hiện nay để trông coi, bảo quản tài sản. Do đất của bố mẹ ông G chưa phân chia, là tài sản chung của 07 anh chị em; vợ chồng ông G chỉ là người trông coi, quản lý tài sản của bố mẹ để lại nên không liên quan gì đến việc ông T khởi kiện. Vì vậy, gia đình ông G sẽ không đến làm việc, không nhận văn bản tố tụng và không đến tham gia phiên toà. Việc nâng cấp, xây dựng, cải tạo ngõ tranh chấp là do bố mẹ ông G trước đây thực hiện; vợ chồng ông G chỉ nâng cấp, đổ bê tông và làm cổng như hiện nay. Do đây là ngõ riêng của gia đình ông G nên không yêu cầu gia đình ông T phải đóng góp, thanh toán giá trị dâng lập, xây dựng, cải tạo ngõ này.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Vũ Thị Đ, ông Vũ Văn N) thống nhất trình bày:
Bố mẹ ông bà là cụ Vũ Văn V, cụ Trần Thị Đ2 (đều đã chết) sinh được 07 người con: Vũ Văn N, Vũ Thị Đ, Vũ Văn Văn B (chết trước cụ Đ1, không có vợ, con), Vũ Thị N1, Vũ Thị Đ1, Vũ Thị Đ3 (chết trước cụ V, cụ Đ1) và Vũ Văn G. Khi còn sống bố mẹ ông bà tạo lập được thửa đất tại thôn T; đã được cấp Giấy chứng nhận cho hộ cụ V, cụ Đ1. Thửa đất này có phần ngõ giáp đường xóm đi ra khu đồng chua (là phần ngõ hiện ông T đang tranh chấp). Ngõ đi này do bố mẹ ông bà dâng lập để gia đình sử dụng, không liên quan đến ai. Trước đây thửa đất của gia đình ông Vũ Văn T1 (bố ông T) sử dụng ngõ đi phía Tây thửa đất, giáp với thửa đất của các ông Vũ Văn D, Vũ Văn N2, Vũ Văn Đ4. Do xảy ra mâu thuẫn nên gia đình ông T không sử dụng ngõ đi nay nữa. Năm 2023, gia đình ông T được vợ chồng ông G cho đi nhờ ngõ để chở đất dâng lập thửa đất của gia đình ông T; sau đó tranh chấp vì cho rằng ngõ này là ngõ xóm. Trước đây gia đình cụ V, cụ Đặng đ cổng ở phía cuối ngõ (giáp sân nhà hai cụ); về sau để đảm bảo an ninh, bố mẹ ông bà đã chuyển cổng ra vị trí hiện nay. Năm 2018 gia đình ông bà được cấp xi măng theo chương trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, anh em ông bà đã bỏ công sức xây dựng ngõ bê tông, làm cổng như hiện nay nhưng gia đình ông T không tham gia, không đóng góp và cũng không có ý kiến gì. Sau khi bố mẹ ông bà chết, nhà đất của hai cụ tạm giao cho vợ chồng ông G, bà P quản lý, sử dụng.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người làm chứng (ông Vũ Văn N2, bà Vũ Thị L) thống nhất trình bày: Bà L là chị gái ruột ông N2, ông Vũ Văn D. Gia đình các ông T1, N2 và D đều có thửa đất giáp với phần ngõ tranh chấp giữa ông T (con ông T1) và gia đình ông G. Các tài sản trên phần ngõ tranh chấp do gia đình ông G đầu tư, xây dựng không liên quan gì đến gia đình các ông bà. Do từ trước đến nay gia đình ông D, ông N2 sử dụng phần ngõ 03m phía trong các thửa đất; không sử dụng phần ngõ tranh chấp phía ngoài nên việc tranh chấp không liên quan gì đến gia đình các ông bà. Hiện nay, ông D đang bị bệnh nặng thường xuyên điều trị tại bệnh viện, vợ và con ông D đi làm; gia đình chúng tôi và gia đình ông D đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng do không liên quan đến việc tranh chấp giữa ông T và ông G nên chúng tôi từ chối tham gia tố tụng.
Ông Vũ Thành T3 trình bày: Ông làm trưởng thôn Tuần Tiến từ năm 2004 đến nay. Phần ngõ tranh chấp giữa gia đình ông T và gia đình ông G có nguồn gốc là lối đi của người dân ra cánh đồng canh tác. Gia đình ông V (bố ông G) trước đây đặt vị trí cổng nhà ở giáp sân, không nằm trên phần ngõ tranh chấp. Năm 2014, gia đình ông V được giao ruộng giáp với phần ngõ tranh chấp; các tuyến đường nội đồng cũng được cải tạo, thuân lợi hơn nên người dân trong thôn ít sử dụng lối đi này, chỉ có các gia đình có thửa đất liền kề sử dụng. Quá trình hoà giải tranh chấp thôn, xã đều xác định phần ngõ tranh chấp hiện nay là ngõ đi chung, không phải ngõ đi riêng của gia đình ông V. Trước đây ngõ tranh chấp là bờ đất, sau đó gia đình ông V có dùng gạch ghép chéo và đổ bê tông để thuận tiện đi lại. Năm 2018, xã K có cấp cho gia đình ông G 7 tấn xi măng để đổ bê tông làm ngõ như hiện nay. Sau đó ông G đã xây cổng ở vị trí giáp đường xóm gây cản trở việc sử dụng ngõ đi của các chủ sử dụng đất phía trong nên xẩy ra tranh chấp.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Vũ Thị N1, bà Vũ Thị Đặng ...): Trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các đương sự đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, không có quan điểm của các đương sự này trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hồ sơ địa chính do UBND xã K, huyện T quản lý, thể hiện:
- - Theo Bản đồ giải thửa và sổ mục kê năm 1995: Thửa đất 1071, tờ bản đồ 09, diện tích 126m², loại đất ao, có gạch sửa diện tích ở phần loại đất là 113m²; chủ sử dụng đất là Vũ Văn T1 (bố đẻ ông T). Thửa đất 1079, diện tích 522m²; trong sổ mục kê kèm theo bản đồ ghi là thửa 1079b, loại đất thổ cư, chủ sử dụng Vũ Văn V (là bố đẻ ông G); chữ “Ví” có được ghi đè bằng mực khác, không xác định được chữ ghi ban đầu là gì; diện tích đã được dập sửa và ghi đè là 522m²; không xác định được số ban đầu là gì. Thửa đất 1080, diện tích 291m²; trong sổ mục kê kèm theo bản đồ ghi là thửa 1080b, loại đất có dập xóa mục đất thổ cư, ghi lại bằng mực đỏ là loại đất ao, diện tích bị dập xoá, ghi lại bằng mực đỏ là 291m², không xác định được số ban đầu là gì, chủ sử dụng đất có dập xoá, ghi lại là “Vũ Văn V”, không xác định được chữ ghi ban đầu là gì. Ngoài các thửa 1079, 1080, ông Vũ Văn V còn có thông tin 02 thửa đất là thửa 1068, diện tích 306m²; thửa 1069, diện tích 176m², loại đất 2 lúa; trong đó thửa 1069 có được ghi bổ sung bên cạnh tên chủ sử dụng đất là “Ga”.
- - Về phần ngõ đi vào các thửa đất: Theo bản đồ năm 1995 có một ngõ đi chung nối từ đường xóm phía Bắc đến đường xóm phía Nam, đi qua thửa 1070 (ghi tên chủ sử dụng là Vũ Văn R); thửa 1071 (ghi tên chủ sử dụng Vũ Văn T1), thửa 1072 (ghi tên chủ sử dụng là Vũ Văn N2), thửa 1073 (ghi tên chủ sử dụng là Vũ Văn Đ4), thửa 1079, 1080, thửa 1081 (ghi tên chủ sử dụng là Trần Văn T4).
- - Theo sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận: Thửa 1071 đã được cấp Giấy chứng nhận số AO 885494 ngày 26-12-2006, diện tích 113m³, mục đích sử dụng làm vườn, người sử dụng đất là hộ ông Vũ Văn T1, bà Nguyễn Thị T2; năm 2022, ông T1, bà T2 đã tặng cho vợ chồng con trai là Vũ Văn T, Vũ Thị Thu H1. Thửa 1079 và 1080 đã được cấp Giấy chứng nhận số AO885441 ngày 26-12-2006, diện tích 813m³, mục đích sử dụng làm nhà ở, người sử dụng đất là hộ ông Vũ Văn V, bà Trần Thị Đăng .1 Hiện vợ chồng cụ V, cụ Đ2 đã chết, con là Vũ Văn G, Vũ Văn N đang sử dụng đất, UBND xã K không nhận được thông tin khai nhận di sản, phân chia thừa kế của các con cụ V, cụ Đ2 đối với thửa đất này. Theo thông tin UBND xã biết, cụ V, cụ Đ2 có 07 con chung là Vũ Văn N, Vũ Thị Đ, Vũ Văn B, Vũ Thị N1, Vũ Thị Đ1, Vũ Thị Đ3 và Vũ Văn G, ngoài ra không có con nuôi, con riêng. Ông B, bà Đ3 đều đã chết. Các thửa đất 1070, 1072 của ông Vũ Văn D (tên trong sổ mục kê là R) và ông Vũ Văn N2 cũng đã được cấp Giấy chứng nhận.
- Sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận cấp cho các thửa đất 1070, 1071, 1072 và 1239 đều có ghi nhận các thửa đất này có phía Đông giáp ngõ xóm rộng TB 2m (là phần ngõ hiện đang tranh chấp) và phía Tây giáp ngõ xóm rộng TB 4m.
- - Về quá trình sử dụng: Phần ngõ xóm hiện đang tranh chấp nối từ đường thôn phía Bắc ra đường T; trước đây người dân trong thôn vẫn sử dụng ngõ đi này để đi ra cánh đồng. Riêng chủ sử dụng các thửa 1071, 1070, 1072 (ông T, ông D, ông N2) ít sử dụng ngõ đi này làm ngõ chính do các thửa đất này có hai mặt giáp 2 ngõ xóm, trong đó ngõ phía Tây rộng hơn và các thửa đất này đều là ao, vườn, không có công trình xây dựng gì. Hộ cụ V, cụ Đ2 sử dụng phần ngõ tranh chấp là ngõ đi chính vào thửa đất của mình do ngõ này là lối đi duy nhất. Tuy nhiên, trước đây gia đình cụ V làm cổng ở đầu thửa đất của mình, vị trí giáp với ngõ đi chung đang tranh chấp.
- Hiện trạng ngõ trước đây là đường đất, sau đó được nâng cấp thành đường gạch và đường xi măng cát đá, rộng trung bình khoảng 2m. Tất cả các lần nâng cấp, cải tạo đường này đều do gia đình cụ V bỏ chi phí, công sức xây dựng. Khoảng năm 2018, UBND xã K có chương trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, được nhà nước hỗ trợ xi măng nên ông G đã đứng ra đầu tư công sức và các vật liệu cát, đá để nâng cấp đường xóm thành đường bê tông. Khối lượng xi măng được hỗ trợ là 7 tấn (theo báo cáo của trưởng thôn Tuần Tiến). Khi đó, ông G có mở rộng đường thành trung bình 3,5m như hiện nay, phần mở rộng theo kết quả đo đạc khi Toà án xem xét thẩm định tại chỗ là về phía thửa đất của ông D, ông T và ông N2. Khi nâng cấp đường bê tông, ông G đã chuyển cổng ra phía giáp đường thôn (vị trí cổng hiện nay) nhưng các bên chưa xảy ra tranh chấp. Khoảng cuối năm 2023, khi ông N thay cánh cổng bằng thép như hiện nay, việc sử dụng ngõ của gia đình ông T bị ảnh hưởng nên giữa ông T và ông G xảy ra tranh chấp. Đại diện thôn T và UBND xã K đã nhiều lần tổ chức làm việc với các bên để hoà giải nhưng không thành.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện (kèm sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và phương án tính giá trị quyền sử dụng đất, tài sản trên đất):
Phần đất tranh chấp trị giá 3.000.000đ/m². Phần tài sản trên diện tích đất tranh chấp có tổng giá trị 21.689.484 đồng. Trong đó: Đường bê tông dày trung bình 0,2m và tường kè bằng gạch ba banh trị giá 14.179.831 đồng. Trụ BTCT, cổng bằng lưới B40 có khung, cột sắt fi80 và mái cổng bằng lưới sắt có khung trị giá 7.509.653 đồng.
Các đương sự đều thống nhất: Các tài sản xây dựng trên diện tích đất tranh chấp là của gia đình ông G, bà P; không có ý kiến gì về kết quả và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vắng mặt nhiều lần không có lý do nên đã không chấp hành các điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về quyền sử dụng đất (ngõ đi chung).
Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 155, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176 và Điều 254 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 171, Điều 203 của Luật Đất đai 2013; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận diện tích đất 36m² (gồm các mốc A, B, C, D trong sơ đồ hiện trạng); địa chỉ thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sử dụng ngõ đi chung cho các hộ gia đình có các thửa đất liền kề. Gia đình ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản (gồm trụ BTCT, cổng bằng lưới B40 có khung, cột sắt fi80 và mái cổng bằng lưới sắt có khung ...) trên diện tích đất 36m² để trả lại hiện trạng ngõ đi chung cho các hộ gia đình có các thửa đất liền kề.
- - Về nghĩa vụ thanh toán: Ông Vũ Văn T phải thanh toán cho ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P 14.179.831 đồng.
- - Về án phí: Ông G, bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Vũ Văn T phải chịu 708.992 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về chi phí tố tụng: Buộc ông G, bà P phải hoàn trả cho ông Thuật số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.700.000 đồng.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là ông Vũ Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất. Diện tích đất tranh chấp và bị đơn đều có địa chỉ tại xã K, huyện T. Đây là vụ án dân sự tranh chấp về quyền sử dụng đất (ngõ đi chung) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào khoản 3 Điều 155 và điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất.
[3] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn (ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Vũ Thị Đ, ông Vũ Văn N, bà Vũ Thị N1, bà Vũ Thị Đ1, ông Vũ Văn D, ông Lương Văn H2) và người làm chứng (ông Vũ Văn N2, bà Vũ Thị L) vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- Về nội dung vụ án:
[4] Căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định phần ngõ tranh chấp có diện tích 36m² (gồm các mốc A, B, C và D trong sơ đồ hiện trạng), có nguồn gốc:
Tại Bản đồ giải thửa và sổ mục kê năm 1995 xã K, huyện T thể hiện: Các thửa đất số 1070 (chủ sử dụng Vũ Văn D), số 1071 (chủ sử dụng Vũ Văn T1), số 1072 (chủ sử dụng Vũ Văn N2), số A (chủ sử dụng Vũ Văn Đ4) ...; đều tờ bản đồ 09, địa chỉ thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng có một ngõ đi chung nối từ đường xóm phía Bắc đến đường X, đi qua phía Đông các thửa đất này. Tại sơ đồ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2006, 2007 cho các hộ gia đình ông Vũ Văn V (bố ông Vũ Văn G), ông Vũ Văn N2, ông Vũ Văn T1 (bố ông Vũ Văn T) và ông Vũ Văn D đều có ghi nhận các thửa đất này có phía Đông giáp ngõ xóm rộng trung bình 2m (là phần ngõ hiện đang tranh chấp) và phía Tây giáp ngõ xóm rộng trung bình 4m.
Về quá trình sử dụng phần đất tranh chấp: Trước đây, phần ngõ xóm tranh chấp được người dân trong thôn sử dụng để đi ra cánh đồng; chỉ có gia đình cụ Vũ Văn V sử dụng làm lối đi chính vào thửa đất của gia đình mình do ngõ này là lối đi duy nhất; các chủ sử dụng đất khác ít sử dụng ngõ đi này làm ngõ chính do các thửa đất này có hai mặt giáp 2 ngõ xóm, trong đó ngõ phía Tây rộng hơn.
Việc phía bị đơn cho rằng phần ngõ tranh chấp là của gia đình cụ Vũ Văn V, cụ Trần Thị Đăng d lập để sử dụng, không liên quan đến các hộ gia đình khác là không có cơ sở chấp nhận. Vì phần đất tranh chấp đã được quy hoạch trong Bản đồ giải thửa và sổ mục kê năm 1995 xã K, mục đích sử dụng duy nhất là để làm ngõ đi chung; diện tích này không được công nhận quyền sử dụng riêng cho cho cá nhân, hộ gia đình nào (tức là diện tích đất tranh chấp không thuộc diện tích đã cấp Giấy chứng nhận của các hộ), do vậy không hộ gia đình nào có quyền sở hữu riêng hoặc cản trở việc đi lại trên phần diện tích ngõ đi chung này.
[5] Về tài sản trên đất: Các đương sự đều thống nhất trình bày tài sản trên diện tích đất tranh chấp (gồm đường bê tông dày trung bình 0,2m, tường kè bằng gạch ba banh; trụ BTCT, cổng bằng lưới B40 có khung, cột sắt fi80, mái cổng bằng lưới sắt có khung ...) có tổng giá trị 21.689.484 đồng là của gia đình ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P đầu tư, xây dựng và hiện nay đang quản lý, sử dụng.
Đối với các tài sản là trụ BTCT, cổng bằng lưới B40 có khung, cột sắt fi80 và mái cổng bằng lưới sắt có khung ... trị giá 7.509.653 đồng: Gia đình ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P xây dựng, sử dụng các tài sản này trên diện tích ngõ đi chung là vi phạm pháp luật về quản lý đất đai, ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt của các hộ dân nên gia đình ông G, bà P phải có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất tranh chấp để trả lại hiện trạng ngõ đi chung.
Đối với tài sản là đường bê tông dày trung bình 0,2m và tường kè bằng gạch ba banh trị giá 14.179.831 đồng: Ông Vũ Văn T tự nguyện thanh toán phần giá trị này cho gia đình ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P nên chấp nhận.
[6] Từ những phân tích nêu trên, các cứ các điều 163, 164, 174, 175, 176 của Bộ luật Dân sự và các điều 166, 170, 171, 203 của Luật Đất đai năm 2013, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định diện tích đất 36m² (gồm các mốc A, B, C, D trong sơ đồ hiện trạng); địa chỉ thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sử dụng ngõ đi chung cho các gia đình có các thửa đất liền kề và yêu cầu gia đình bị đơn phải tháo rỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất thuộc ngõ đi chung là có cơ sở nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần giá trị tài sản trên đất thanh toán cho bị đơn.
[8] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nguyên đơn đã nộp tạm ứng là 7.700.000 đồng và đã chi phí hết. Căn cứ khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận; bị đơn phải chịu chi phí tố tụng nên bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.700.000 đồng.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 155, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176 và Điều 254 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 170, Điều 171, Điều 203 của Luật Đất đai 2013;
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Vũ Văn T.
- Công nhận diện tích đất 36m² (gồm các mốc A, B, C, D trong sơ đồ hiện trạng); địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng là ngõ đi chung. Các chủ sử dụng thửa đất liền kề có quyền sử dụng ngõ đi chung này.
- Gia đình ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản (gồm trụ BTCT, cổng bằng lưới B40 có khung, cột sắt fi80 và mái cổng bằng lưới sắt có khung ...) trên diện tích đất 36m² để trả lại hiện trạng ngõ đi chung.
(Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ kèm theo).
- Về nghĩa vụ thanh toán: Ông Vũ Văn T phải thanh toán cho ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P 14.179.831 (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm ba mươi mốt) đồng.
- Về án phí:
- Ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Vũ Văn T phải chịu 708.992 (Bảy trăm linh tám nghìn chín trăm chín mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008974 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Ông T còn phải nộp 408.992 (Bốn trăm linh tám nghìn chín trăm chín mươi hai) đồng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Vũ Văn G, bà Vũ Thị P phải hoàn trả cho ông Vũ Văn T số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.700.000 (Bảy triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
10
11
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BADS tranh chấp QSD đất 15.27.9.2024 T-G
