|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày: 27-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Tại điểm cầu trung tâm:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Quang
- Bà Lê Thị Việt Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh P, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lương Mạnh H, sinh ngày 26/8/1978 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu C, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị Minh T1, sinh năm 1954; Có vợ là Đỗ Thị X, sinh năm 1977 và 01 con (sinh năm 2015);
- Vũ Văn L, sinh ngày 27/7/1968 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu A, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn B bà Nguyễn Thị T2 (đều đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 và 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000);
- Vũ Anh T3, sinh ngày 11/12/1986 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu A, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn S, sinh năm 1963 và bà Mai Thị N, sinh năm 1966; Có vợ là Nguyễn Thị L1, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011);
Tiền án: Có 01 tiền án
Bản án HSST số 53 ngày 15/5/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quản chế 02 năm, phạt bổ sung 20.000.000đ và buộc nộp 50.000đ án phí HSST. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 17/3/2004, đã chấp hành xong án phí, chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Tiền sự: Không.
+ Nhân thân:
Ngày 07/7/1997, Công an huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phú ra quyết định khởi tố bị can về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân. Ngày 21/4/2000, Công an huyện Đ ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với H.
Bản án HSST số 01 ngày 09/01/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, buộc nộp án phí HSST là 50.000đ. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 12/10/2011.
Bản án HSST số 55 ngày 16/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt 24 tháng tù về tội Đánh bạc, buộc nộp án phí HSST là 200.000đ. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 17/02/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024, đến ngày 04/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
Ngày 29/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Chiếm đoạt chất ma túy và Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, buộc bồi thường cho bị hại số tiền 2.210.000đ, nộp án phí HSST là 200.000đ, án phí DSST là 200.000đ. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 20/9/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2023, đến ngày 19/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
Ngày 27/4/2012, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt 5.000.000đ về tội Đánh bạc, buộc nộp án phí HSST là 200.000đ. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 27/02/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2023, đến ngày 19/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị Minh T1, sinh năm 1954
- Anh Vũ Văn T4, sinh năm 1989
- Chị Đỗ Thị X, sinh năm 1977
- Anh Chử Văn K, sinh năm 1985
- Anh Trần Ngọc H2, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu 03, xã Bằng Luân, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Khu An Thọ, xã Hùng Long, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Tổ dân phố Phiêng 1, thị trấn Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Khu G, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lương Mạnh H và bị cáo Vũ Văn L đều là người sử dụng trái phép chất ma túy. Do cùng chấp hành án tại Trại giam Tó thuộc Bộ C nên sau khi chấp hành xong hình phạt tù, cả hai cho nhau số điện thoại để liên lạc. Ở cùng khu với L có Vũ Anh T3, sinh năm 1986 là cháu ruột của L và Chử Văn K, sinh năm 1985, trú tại xã H, huyện Đ là người sử dụng trái phép chất ma túy, L và hai người này có số điện thoại của nhau. Bản thân T3 cũng có quan hệ quen biết với người sử dụng trái phép chất ma túy khác là Trần Ngọc H2, sinh năm 1984 tạm trú ở khu G, xã S, huyện Đ và cho nhau số điện thoại để liên lạc.
Trong thời gian quen biết, H đã 01 lần bán trái phép chất ma túy cho L thu số tiền 6.000.000đ. L đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho T3 và 02 lần bán trái phép chất ma túy cho K thu tổng số tiền là 1.585.000đ. T3 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho H2 thu số tiền 1.000.000đ. Cụ thể như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 02/12/2023, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên L sử dụng số điện thoại 0869.971.xxx lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 của mình gọi đến số điện thoại 0389.201.xxx lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 của H hỏi mua 6.000.000đ ma túy loại Heroine. H đồng ý, hẹn Lý chiều ngày 03/12/2023 đến khu vực ngã ba C, đoạn giáp ranh giữa xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ và xã Đ, huyện Y, tỉnh Yên Bái để giao nhận. Đến ngày hẹn, H mang theo 01 gói nhỏ có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen hàn kín các mép, bên trong có Heroin rồi thuê xe taxi của một người không quen biết đi từ thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái về xã B. L cũng thuê xe taxi của một người không quen biết đến điểm hẹn trên để gặp H. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai gặp nhau tại khu vực ngã ba C đoạn thuộc địa phận xã Đ, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Tại đây, H đưa cho L gói ma túy trên. Lý sử dụng ứng dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B2) cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu S2 10 chuyển khoản 6.000.000đ từ số tài khoản 4280969092 của Lý đến số tài khoản 262626228 của H mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB). Sau khi nhận được tiền, H đi về nhà ở xã B, còn L mang số ma túy trên về nhà, chia thành nhiều gói nhỏ để sử dụng dần và bán. Khi T3 và K hỏi mua, L đã đem 04 gói nhỏ bán cho 02 đối tượng trên để kiếm lời. Cụ thể như sau:
Trong các ngày 11/12/2023 và 14/12/2023, L đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Chử Văn K thu tổng số tiền là 985.000đ.
Lần 1: Khoảng 14 giờ ngày 11/12/2023, L đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0865.183.xxx của Kích đến số điện thoại 0869.971.xxx của L hỏi mua 500.000đ ma túy Heroine. L đồng ý, hẹn Kích đến ven đường tỉnh lộ 323 đoạn gần cổng bến cảng đá trắng thuộc khu A, xã H để giao nhận. Sau đó, L cầm theo 01 gói Heroine có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ, đi bộ đến điểm hẹn trên. Tại đây, L đưa cho K gói ma túy trên và đồng ý bán cho K với giá 485.000đ. Kích sử dụng ứng dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B2) cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của K chuyển khoản 485.000đ từ số tài khoản 4280975327 của Kích đến số tài khoản 4280969092 của L. Sau khi nhận được tiền, L đi bộ về nhà còn Kích mang số ma túy trên về, một mình sử dụng hết.
Lần 2: Đến khoảng 11 giờ ngày 14/12/2023, K tiếp tục gọi điện thoại cho L hỏi mua 500.000đ Heroine. L đồng ý. Sau đó, vẫn tại địa điểm như trên, L đã bán cho K 01 gói ma túy có cùng đặc điểm với gói ma túy đã bán cho K ở lần 1 và nhận 500.000đ từ Kích qua hình thức chuyển khoản. Số ma túy mua được của L, K mang về nhà, một mình sử dụng hết.
Cũng trong ngày 11/12/2023 và ngày 12/12/2023, L đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho T3 thu tổng số tiền là 600.000đ. Số ma túy này, sau đó T3 đã bán lại cho H2, thu tổng số tiền là 1.000.000đ. Cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 06 giờ sáng ngày 11/12/2023, T3 nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0847.019.xxx của H2 gọi đến số điện thoại 0364.327.xxx lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của T3 hỏi mua 500.000đ Heroine. T3 đồng ý, hẹn H2 đến ven đường tỉnh lộ 323 đoạn gần lối rẽ đi Cụm C thuộc khu E, xã S để giao nhận. Do không có sẵn ma túy nên T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-037.87 đến nhà L, gặp và hỏi mua của L 300.000đ tiền ma túy heroine. L đồng ý, nhận của T3 300.000đ rồi đưa cho T3 01 gói ma túy có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng. T3 cầm gói ma túy này đi đến điểm hẹn đưa cho H2, bảo H2 trả cho T3 500.000đ như thỏa thuận và cho T3 vay thêm 100.000đ. H2 đồng ý, sử dụng ứng dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B2) chuyển khoản 600.000đ từ số tài khoản 8811389555 của H2 đến số tài khoản 1112198639999 của T3 mở tại Ngân hàng cổ phần Q (MB). Sau đó, H2 mang gói ma túy trên về nhà, một mình sử dụng hết.
Lần 2: Khoảng 7 giờ sáng ngày 12/12/2023, H2 tiếp tục gọi điện thoại cho T3 hỏi mua 500.000đ Heroine. T3 đồng ý, hẹn H2 đến địa điểm đã mua bán ma túy ở lần 1 để giao nhận. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter biển số 19E1-189.81 đến nhà L, hỏi mua của L 300.000đ ma túy. Sau khi trả cho L 300.000đ và nhận được 01 gói ma túy có đặc điểm như gói ma túy đã mua ở lần 1, thấy số heroine lần này nhiều hơn số heroine mua được lần trước nên T3 đã bớt một phần heroine từ gói ma túy trên, gói vào tờ tiền 5.000đ có sẵn rồi cất vào trong người. Số còn lại, Tuấn g lại như cũ mang đến điểm hẹn đưa cho H2 và đồng ý cho H2 trả tiền sau. Đến khoảng 08 giờ 07 phút cùng ngày, qua hình thức chuyển khoản như trên, H2 thanh toán cho T3 số tiền 500.000đ như đã thỏa thuận. Số ma túy mua được của T3, H2 đã một mình sử dụng hết.
Đối với số ma túy đã bớt lại của H2, T3 đem về nhà, một mình sử dụng một phần cho bản thân, số còn lại gói lại như cũ rồi cất giấu trong người. Đến khoảng 14 giờ ngày 16/12/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân, T3 điều khiển xe mô tô biển số 19E1-189.81 mang theo gói ma túy trên đến khu vực cầu Y thuộc khu A, xã Y, huyện Đ để tìm người mua. Tuy nhiên, T3 chưa kịp bán cho ai thì bị tổ công tác Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình lập biên bản, tổ công tác đã thu giữ, niêm phong số bột, cục màu trắng gói trong tờ tiền 5.000đ mà T3 khai nhận là ma túy và gửi đi giám định, đồng thời tạm giữ của T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max lắp sim số 0364.327.047, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 19E1-189.81 cùng số tiền 600.000đ.
Tại Cơ quan điều tra, T3 thừa nhận việc tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích bán kiếm lời, đồng thời tự khai nhận việc đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho H2 như đã nêu trên. Khi bị triệu tập, H2 cũng thừa nhận việc đã mua ma túy của T3 như T3 đã khai.
Ngày 17/12/2023, Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Anh T3 tại khu A, xã H, huyện Đ. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Ngày 19/12/2023, Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận giám định:
“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 tờ tiền mệnh giá 5000 VNĐ được gói hình chữ nhật trong Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,142 gam, loại Heroine (Heroin)”
* H3 (hay Heroine, D): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”
Xét thấy hành vi của Vũ Anh T3 đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam đối với T3 để điều tra về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về phía Vũ Văn L, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân, L mang theo 02 gói ma túy gồm 01 gói có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ, có chữ viết màu đỏ và 01 gói có đặc điểm là túi nilon màu trắng được gói trong 01 túi nilon màu trắng, các mép kín, một mép hở, bên ngoài được cuốn bằng dây dây nịt cao su màu vàng, rồi đi bộ đến ven đường tỉnh lộ 323 đoạn thuộc khu A để tìm người mua. Tuy nhiên, L chưa kịp bán cho ai thì bị tổ công tác Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình lập biên bản thu giữ của Lý 02 gói trên, niêm phong và gửi đi giám định, đồng thời tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite lắp sim số 0869.971.968 và số tiền 200.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận số chất bột, cục màu trắng trong 02 gói trên là ma túy, L tàng trữ nhằm bán kiếm lời đồng thời tự khai nhận đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Chử Văn K như đã nêu trên. Khi bị triệu tập, K cũng thừa nhận việc mua ma túy của L như L đã khai.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn L tại khu A, xã H, huyện Đ. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Ngày 19/12/2023, Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận giám định:
“Chất bột cục màu trắng chứa trong 02 gói gồm 01 gói giấy có hai mặt màu trắng, có dòng kẻ, chữ viết màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, bên ngoài được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, các mép kín, một mép mở, bên ngoài được cuốn bằng dây cao su màu vàng, trong Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 2,699 gam, loại Heroine (H)
* Heroin (hay Heroine, D): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”
Xét thấy hành vi của Vũ Văn L đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam đối với L để điều tra về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Kết quả điều tra, L khai nhận nguồn gốc số ma túy mà L đã bán cho K, T3 và tàng trữ nhằm mục đích bán như trên là mua của Lương Mạnh H.
Căn cứ lời khai của L, ngày 01/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an huyện Đ đã tiến hành triệu tập H để làm việc. H thừa nhận việc đã bán ma túy cho L như L đã khai. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lương Mạnh H, đồng thời tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno6 Z 5G lắp 02 sim số 0389.201.115 và 0389.482.849 cùng 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT biển số 18A- 159.39 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Mạnh H tại tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Quá trình khám xét thu giữ 01 túi nilon màu tím, có viền kẻ màu đỏ, có khuy bấm, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng; 01 túi màu hồng, có khuy bấm, bên trong chứa 10 viên nén, trong đó có 09 viên nén màu hồng, một mặt có dập chìm chữ “WY” và 01 viên nén màu xanh, một mặt có dập chìm chữ “Y1” cùng 01 cân điện tử. H khai nhận chất bột, cục trong túi nilon trên là ma túy loại Heroine, các viên nén đựng trong túi nilon trên là ma túy tổng hợp, H tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong toàn bộ số chất bột, cục màu trắng và viên nén trên gửi đi giám định.
Ngày 03/01/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận giám định:
“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon màu tím, có viền kẻ màu đỏ, có khuy bấm bịt kín thu giữ của Lương Mạnh H gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 1,574 gam, loại Heroine (H).
10 viên nén, trong đó 09 viên màu hồng, 01 viên màu xanh. 09 viên nén màu hồng có một mặt đều có dập chìm chữ “WY”, 01 viên nén màu xanh một mặt có dập chìm chữ “Y1” bên trong 01 túi màu hồng, có khuy bấm bịt kín thu giữ của Lương Mạnh H gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,989 gam, loại Methamphetamine.
* Heroine (H3) có tên khoa học là : Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
* Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Xét thấy hành vi của Lương Mạnh H đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời Quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam đối với H để điều tra về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết quả điều tra, Lý tự khai nhận ngoài 02 lần bán trái phép chất ma túy cho K, L còn 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Anh T3 thu tổng số tiền là 600.000đ. Vũ Anh T3 cũng thừa nhận việc mua ma túy của T3 sau đó bán cho H2 như đã nêu trên.
Xét thấy đủ căn cứ để nhập vụ án, ngày 28 tháng 02 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ ra Quyết định nhập vụ án Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy do Lương Mạnh H, Vũ Văn L thực hiện với vụ án Mua bán trái phép chất ma túy do Vũ Anh T3 thực hiện đồng thời điều tra làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho L và tàng trữ để sử dụng như trên, H khai nhận mua của một người nam giới tại ga TP. Y, tỉnh Yên Bái vào ngày 02/12/2023 với tổng số tiền là 6.000.000đ, trong đó 11 viên hồng phiến có giá 400.000đ và 5.600.000đ tiền heroine. Sau đó, H đã chia số heroin mua được làm 02 phần, một phần để bán và một phần để sử dụng, đồng thời H lấy 01 viên hồng phiến và một ít heroine sử dụng cho bản thân. Khi L hỏi mua ma túy, H đã lấy phần heroine để bán rồi bán cho L. Số còn lại, H tàng trữ để sử dụng và bị thu giữ như trên.
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lương Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lương Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Mạnh H từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chát ma túy” và 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 04 năm tù đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Anh T3 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 03/12/2023, tại khu vực ngã ba C đoạn thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Yên Bái, Lương Mạnh H đã 01 lần bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Vũ Văn L thu số tiền 6.000.000đ. Ngoài ra, ngày 01/01/2024, tại nơi ở của H tại tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái, H còn tàng trữ 1,574 gam Heroine và 0,989 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Trong các ngày 11/12/2023 và 14/12/2023, tại ven đường tỉnh lộ 323 đoạn gần cổng bến cảng đá trắng thuộc khu A, xã H, Vũ Văn L đã 02 lần bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Chử Văn K, thu tổng số tiền là 985.000đ. Cũng trong ngày 11/12/2023 và ngày 12/12/2023, tại nhà ở của mình ở khu A, L 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Anh T3 thu tổng số tiền là 600.000đ. Như vậy, tổng số tiền L có được sau 04 lần bán trái phép chất ma túy là 1.585.000đ. Ngoài ra, ngày 16/12/2023, tại khu vực ven đường tỉnh lộ 323 đoạn thuộc khu A, xã H, L còn tàng trữ 2,699 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời.
Trong các ngày 11/12/2023 và 12/12/2023, tại ven đường tỉnh lộ 323 đoạn gần lối rẽ đi Cụm C thuộc khu E, xã S, T3 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc H2 thu tổng số tiền là 1.000.000đ. Ngoài ra, ngày 16/12/2023, tại khu vực cầu Y thuộc khu A, xã Y, huyện Đ, T3 còn có hành vi tàng trữ 0,142 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời.
Hành vi một lần bán trái phép chất ma túy của Lương Mạnh H cho Vũ Văn L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra Lương Mạnh H còn tàng trữ 1,574 gam Heroine và 0,989 gam Methamphetamine (tổng 2 chất ma túy có khối lượng là 2,563 gam) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi đó đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Vũ Văn L 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Chử Văn K và 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Anh T3, Vũ Anh T3 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc H2, hành vi của bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên”
[3]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay đang gây nhức nhối trong xã hội và nó còn là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác.
[4]. Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều đã từng bị Tòa án xét xử.
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Mạnh H chưa được xóa án tích, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3 còn khai ra các lần phạm tội trước đó nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt ở mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có chức vụ và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với các bì niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh P hoàn lại sau giám định, sim điện thoại số 0364.327.xxx của Vũ Anh T3, sim điện thoại số 0869.971.xxx của Vũ Văn L, sim điện thoại số 0389.201.xxx và 0389.482.849 thu giữ của Lương Mạnh H, do là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với các điện thoại di động các bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy là công cụ, phương tiện phạm tội, nên sẽ tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền bị cáo mua bán ma túy sẽ tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với tờ tiền mệnh giá 5.000đ bị cáo Vũ Anh T3 dùng để gói ma túy sẽ tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền thu giữ của bị cáo Vũ Văn L là 200.000đ và bị cáo Vũ Anh T3 là 600.000đ do không liên quan đến việc phạm tội nên sẽ trả lại cho các bị cáo, tuy nhiên sẽ tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho anh Vũ Văn T4 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển số 19E1 – 189.81, trả lại cho bà Vũ Thị Minh T1 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, biển số 18A- 159.39 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe, trả cho chị Đỗ Thị X 01 cân điện tử là hợp pháp, cần xác nhận.
[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Văn L, Vũ Anh T3, Chử Văn K, Trần Ngọc H2, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ chuyển cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
[8]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Mạnh H, do bị cáo đã bị xử lý hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ không xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này là phù hợp.
[9]. Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Lương Mạnh H, do chưa xác minh, làm rõ được, sau này làm rõ được sẽ xử lý sau.
[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3;
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Mạnh H;
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn L và Vũ Anh T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Lương Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 16/12/2023.
- - Xử phạt bị cáo Vũ Anh T3 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 16/12/2023.
- - Xử phạt bị cáo Lương Mạnh H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 01/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu để tiêu hủy: 01 (Một) bì giấy số 1539/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P; 02 (Hai) túi niêm phong, mã số lần lượt là PS3A 068979 và PS3A 068980 kèm theo KLGĐ số 10/KL-KTHS, ngày 03/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P; 02 (Hai) túi niêm phong số 1592/KL-KTHS (mã số PS3 2158478 và PS3 2158468) của Phòng K1 Công an tỉnh P; sim điện thoại số 0364.327.xxx của bị cáo Vũ Anh T3; sim điện thoại số 0869.971.xxx của bị cáo Vũ Văn L; sim điện thoại số 0389.201.xxx và 0389.482.849 của bị cáo Lương Mạnh H.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, vỏ màu vàng đồng, đã cũ, số IMEI: 357285099903094 của bị cáo Vũ Anh T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, vỏ màu trắng đã cũ, số seerri: RF8N31YBQ3X; số IMEI (khe 1): 355045115749638; số IMEI (khe 2): 355046115749636 của bị cáo Vũ Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno6 Z 5G, vỏ màu trắng, đã cũ, số IMEI 1: 869904051948977; số IMEI 2: 869904051948969 của Lương Mạnh H;
- - Tịch thu của bị cáo Vũ Văn L 1.585.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu của bị cáo Vũ Anh T3 1.000.000đ (Một triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- - Tịch thu của bị cáo Lương Mạnh H 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.
- - Tịch thu tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng) bị cáo Vũ Anh T3 dùng để gói ma túy nộp ngân sách nhà nước.
- - Trả lại cho bị cáo Vũ Văn L 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và bị cáo Vũ Anh T3 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho anh Vũ Văn T4 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển số 19E1 – 189.81; trả lại cho bà Vũ Thị Minh T1 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, biển số 18A- 159.39 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe; trả cho chị Đỗ Thị X 01 cân điện tử.
(Các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng đang quản lý).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Vũ Văn L, Vũ Anh T3 và Lương Mạnh H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Thường |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: luong manh ha cung dong phạm
