Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO YÊN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2024/HS-ST

Ngày 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Duy Hưng;
  2. Ông Trần Trung Kiên

Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:17/2024/HSST ngày 23/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:17/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

Nguyễn Ngọc D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/3/1984 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Phí Thị M; Vợ Nguyễn Thị L; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: không; tiền sự: Không; Nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 31 tháng 5 năm 2024 đến ngày 06/6/2024 hiện đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 06/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.

Vũ Thị D1; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1987 tại: huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Minh T1 và bà: Hà Thị C; Chồng: Nguyễn Xuân T2; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 06/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.

Lê Văn L1 ; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 8 năm 1992 tại: huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Vũ Thị C1; Tiền án: không;tiền sự: Không; Nhân thân: Không

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 06/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 05/2024, Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1984, trú tại bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô. D thoả thuận với khách chơi nhận giá tiền 73% đối với số đề, ba càng và lô xiên khách đánh 100.000đ chỉ phải trả số tiền 73.000đ; tính giá 22.000đ/01 điểm lô. Sau khi bán số lô đề cho khách, D sẽ giữ lại không quá 100.000đ/1 số đề và 100 điểm/1 số lô để ăn thua trực tiếp với khách, khi có số lượng số lô số đề lớn (trên 100.000đ/1 số đề và 100 điểm/1 số lô) sau đó Nguyễn Ngọc D chuyển cho Nguyễn Thị H, trú tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái qua tin nhắn zalo có tên “Giáp Thìn” với giá số đề có giá là 71% trên tổng số tiền cược, số lô có giá 21.700đ/01 điểm lô. Hình thức chơi lô, đề như sau: Đánh đề 2 số (gồm các số từ 00 đến 99), đề 3 số (thường gọi là ba càng gồm các số từ 000 đến 999), đánh lô thường (gồm các số từ 00 đến 99), lô xiên 2 (gồm cặp hai số trong các số từ 00 đến 99), xiên 3(gồm cặp ba số trong các số từ 00 đến 99), xiên 4 (gồm cặp bốn số trong các số từ 00 đến 99). Cách so thưởng căn cứ vào kết quả mở thưởng trong ngày của xổ số kiến thiết miền B. Nếu số đề (hai số) đánh cược trùng với hai số cuối của giải đặc biệt nghĩa là trúng đề, Nguyễn Ngọc D sẽ phải trả cho người trúng số tiền gấp 70 lần số tiền đánh cược. Tương tự, nếu trúng đề 3 số (ba càng) bị cáo phải trả số tiền gấp 400 lần số tiền đánh cược. Đối với số lô thường (hai số), sẽ so với hai số cuối của tất cả các giải thưởng, nếu trùng nghĩa là trúng lô, Nguyễn Ngọc D sẽ phải trả số tiền 80.000đ/01 điểm tương ứng với số điểm mà người chơi đã mua. Đối với lô xiên (hai, ba, bốn) nếu trong các giải thưởng có đủ các cặp số đánh cược thì sẽ trúng lô xiên. Nguyễn Ngọc D sẽ phải trả số tiền gấp 100 lần số điểm đánh cược với lô xiên 2, trả gấp 400 lần số điểm đánh cược với lô xiên 3, trả gấp 1.000 lần số điểm đánh cược với lô xiên 4 (Lô xiên tính 10.000đ/01 điểm).

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, Lê Văn L1, nhắn tin qua tài khoản Zalo “Thành Long” (đăng ký bằng số điện thoại 0985.181.xxx) mua 300 điểm lô với số tiền 6.600.000 đồng của Nguyễn Ngọc D nhưng chưa thanh toán tiền. Đến 17 giờ 56 phút 29/5/2024, Vũ Thị D1, nhắn số lô, số đề và gửi một số hình ảnh chụp số lô, số đề qua tài khoản zalo có tên “Abdj” đến tài khoản zalo có tên “Hongcong” của Nguyễn Ngọc D mua với số tiền 31.544.000 đồng. Nguyễn Ngọc D chưa kịp xem hết các tin nhắn Duyên gửi và chưa kịp xác nhận lại D1 thì Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L tiến hành làm việc, kiểm tra tại đây Nguyễn Ngọc D đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán số lô, số đề và tự nguyện giao nộp 02 chiếc điện thoại để thực hiện việc mua bán số lô số đề trái phép gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng đen, loại Iphone X, trong máy có lắp 01 sim V số: 0375.405.111 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy A32, trong máy lắp 02 sim gồm, 01 sim Vinaphone số 0822.130.xxx, 01 sim Mobiphone số 0783.572.xxx.

Ngày 31/5/2024 Vũ Thị D1 đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đầu thú về hành vi mua số lô, số đề của mình và giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng, gắn 01 thẻ sim Viettel số 0386.946.xxx, 01 chiếc điện thoại Nokia 1290 màu xanh dương D1 dùng để mua các số lô, số đề của Nguyễn Ngọc D.

Ngày 13/6/2024 Lê Văn L1 đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đầu thú về hành vi mua số lô, số đề của mình, đến ngày 15/6/2024 L1 giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, loại Iphone 6s Plus, trong máy không lắp kèm sim, L1 sử dụng để thực hiện hành vi mua bán số lô số đề với D

Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024 Nguyễn Ngọc D đã bán cho Lê Văn L1 3 lần lô đề 500 điểm lô với số tiền là 11.000.000 đồng, kết quả ngày 27/5/2024 trúng thưởng (2.400.000đ) Ngày 28/5/2024 bán các số lô, số đề với số tiền là 4.600.000 đồng. Kết quả L1 trúng 200 điểm lô, được số tiền 16.000.000 đồng; ngày 29/5/2024 bán 300 điểm lô với số tiền 6.600.000 L1 chưa thanh toán tiền và D cũng thanh toán tiền trúng thưởng cho L1.

Từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024 Nguyễn Ngọc D đã bán cho D1 3 lần với số tiền là 28.618.000 đồng. Kết quả ngày 27/5/2024 D1 trúng thưởng 30 điểm lô được số tiền 2.400.000 đồng ; Ngày 28/5/2024, bán số lô, số đề cho D1 với số tiền là 29.438.000 đồng, tuy nhiên. Kết quả D1 trúng thưởng số tiền là 5.260.000 đồng. Ngày 29/5/2024 D mua bán số lô cho D1 là 31.544.000đ. D1 chưa thanh toán tiền và D cũng thanh toán tiền trúng thưởng cho cho D1.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc D, Vũ Thị D1, Lê Văn L1 khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề của bản thân.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáoNguyễn Ngọc D, Vũ Thị D1, Lê Văn L1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải;

Đối với Vũ Thị D1Lê Văn L1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đầu thú; bị cáoVũ Thị Duyên có bố đẻ là Vũ Minh T1 tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng hưởng huân chương kháng chiến hạng III; bị cáoLê Văn L2 có mẹ đẻ là bà Vũ Thị C1 có giấy chứng nhận dân công hoả tuyến đây là tình tiết cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với Nguyễn Thị H, bị cáo Nguyễn Ngọc D khai đã chuyển các số lô, số đề cho chị H. Tuy nhiên quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh chị H có hành vi mua bán số lô số đề với bị cáo D. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện B không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

Vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng đen, loại Iphone X, trong máy có lắp 01 sim Viettel số: 0375.405.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy A32, trong máy lắp 02 sim gồm, 01 sim Vinaphone số 0822.130.xxx, 01 sim Mobiphone số 0783.572.xxx; 01 chiếc điện thoại Nokia 1290 màu xanh dương; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng, gắn 01 thẻ sim Viettel số 0386.946.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, loại Iphone 6s Plus trong máy không lắp kèm sim

Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D Lê Thị D2 về tội "Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Truy tố bị cáo Lê Văn L1 phạm tội "Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai đề nghị Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 17; điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D từ 03 (ba) năm 02 (hai) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 17; điều 58; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thị D1 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 05 năm, giao bị cáo cho UBND xã B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm t,s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 17; điều 58; khoản 1;2;5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn L1 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Quy định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 24 đến 36 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B H1, huyện B, tỉnh Lào Cai giám sát và giáo dục đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng đen, loại Iphone X, trong máy có lắp 01 sim Viettel số: 0375.405.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy A32, trong máy lắp 02 sim gồm, 01 sim Vinaphone số 0822.130.xxx, 01 sim Mobiphone số 0783.572.xxx; 01 chiếc điện thoại Nokia 1290 màu xanh dương; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng, gắn 01 thẻ sim Viettel số 0386.946.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, loại Iphone 6s Plus trong máy không lắp kèm sim

T3 án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong khoảng thời gian từ ngày 27,28,29/5/2024 các bị cáo Nguyễn Ngọc Dương Vũ Thị D3, Lê Văn L1 đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số đề, số lô. Số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc được xác định như sau: Số tiền bị cáo Vũ Thị D3 sử dụng để đánh bạc là 97.260.000 đồng; Số tiền bị cáo Lê Văn L1 sử dụng để đánh bạc là 38.200.000đồng; Số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc D sử dụng để đánh bạc là 135.460.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Ngọc D Vũ Thị D3 đều từ 50.000.000 đồng trở lên. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc D Vũ Thị D3, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

Số tiền bị cáo Lê Văn L1 sử dụng để đánh bạc là 38.200.000đồng. Số tiền dùng để đánh bạc của Lê Văn L1 từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của Lê Văn L1, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng do các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, muốn có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân nên các bị cáo đã thực hiện việc đánh bạc trái phép bằng hình thức mua, bán số lô, đề với mục đích được thua bằng tiền và hưởng hoa hồng phần trăm chênh lệch. Vì vậy cần phải xét xử một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ.

Bị cáo Nguyễn Ngọc D là người nhận các bảng lô, đề từ người chơi sau đó tổng hợp chuyển đi cho người tài khoản zalo tên Nguyễn Thị H để được hưởng phần trăm hoa hồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò chính trong vụ án.

Bị cáo Vũ Thị D3; Lê Văn L1 mua lô đề để hưởng phần trả thưởng. Vì vậy, các bị cáo là người thực hành trong vụ án

[4] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Vũ Thị D3 Lê Văn L1 chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý hành chính.

[5] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Vũ Thị D3 Lê Văn L1 phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Các bị cáo sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Vũ Thị D3; Lê Văn L1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đầu thú và đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Văn L1 có mẹ là Vũ Thị C1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân huy chương cao quý. Bị cáo Vũ Thị D3 có ông nội được tặng huy chương kháng chiến nên bị cáo Vũ Thị D3; Lê Văn L1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo xét thấy:

Bị cáo Vũ Thị D3; bị cáo Lê Văn L1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án, tiền sự. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Lê Văn L1 phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức giáo dục răn đe đối với bị cáo đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật. Vì vậy cần áp dụng mục 2c điều 1 nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Điều 65 Bộ luật Hình sự xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo Vũ Thị D3; Lê Văn L1 cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp thu nhập ổn đinh nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng đen, loại Iphone X, trong máy có lắp 01 sim Viettel số: 0375.405.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy A32, trong máy lắp 02 sim gồm, 01 sim Vinaphone số 0822.130.xxx, 01 sim Mobiphone số 0783.572.xxx; 01 chiếc điện thoại Nokia 1290 màu xanh dương; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng, gắn 01 thẻ sim Viettel số 0386.946.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, loại Iphone 6s Plus Các bị cáo sử dụng điện thoại di động, máy tính để thực hiện hành vi mua bán số lô, đề nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp.

[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù,được khấu trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 03 (ba) năm 01(một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điểm s điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1;2;5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị D3 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm i,s điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1;2;5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng đen, loại Iphone X, trong máy có lắp 01 sim Viettel số: 0375.405.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy A32, trong máy lắp 02 sim gồm, 01 sim Vinaphone số 0822.130.xxx, 01 sim Mobiphone số 0783.572.xxx; 01 chiếc điện thoại Nokia 1290 màu xanh dương; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng, gắn 01 thẻ sim Viettel số 0386.946.xxx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, loại Iphone 6s Plus

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B và chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Vũ Thị D3, Lê Văn L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKS nhân dân huyện Bảo Yên;
  • - Công an huyện BY
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo,
  • - Chi cục THADS huyện Bảo Yên;
  • - UBND xã Bảo Hà ;
  • - Lưu HS; TA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Duong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger