|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2024/HS - ST Ngày 26/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ma Văn Nhạc
- Bà Quách Thị Tấm
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Anh Trâm - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thị Hồng Tươi và Ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Triệu Văn C
sinh ngày 08 tháng 3 năm 1997 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Triệu Văn H và bà Phạm Thị N; vợ, con. Chưa có.
Tiền án: 01, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 06 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HS-ST ngày 31/7/2018.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 14/11/2012 bị Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt
1
hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng vật liệu nổ trái phép.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Văn Đ
sinh ngày 08 tháng 9 năm 2005 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Văn H1 (đã chết) và bà La Thị T; vợ, con. Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Dương Văn H2
sinh ngày 13 tháng 3 năm 1997 tại xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Dương Văn S (đã chết) và bà Nông Thị T1; Vợ, con: Chưa có
Tiền án: Không
Tiền sự: 01, ngày 11/7/2023, bị Chủ tịch UBND xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 79/QĐ-XPVPHC.
Nhân thân: Ngày 20/9/2016 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ-XPVPHC.
Ngày 29/5/2018 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 206/QĐ-XPVPHC.
Ngày 14/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Ngày 19/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xử phạt 06 tháng tù tại bản án số 11/2019/HSST về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự,
Ngày 20/10/2021 bị Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 92/QĐ-XPVPHC.
2
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hà Trung T2, sinh năm 1989 - Trú tại: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/12/2023, Hoàng Văn Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 11V1-023.27 của anh Hà Trung T2 sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã B, huyện P (là chú của Đ) để sử dụng đi lại. Khoảng 17 giờ ngày 23/12/2023, sau khi làm thuê nhận được 300.000 đồng tiền công, Đ đi về nhà thì gặp Dương Văn H2 và rủ H2 đi mua ma túy, loại heroine về sử dụng thì được H2 đồng ý, H2 không có tiền, Đ đưa xe cho H2 điều khiển chở theo Đ đi đến đoạn đường B thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện B gặp Triệu Văn C trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, H2 dừng xe ở cạnh đường và ngồi trên xe đợi, còn Đ đi bộ mua với C 02 gói ma túy với giá 300.000 đồng, H2 chứng kiến việc Đ mua ma túy với C.
Sau khi mua được ma túy, H2 điều khiển xe chở Đ đi đến đoạn đường vắng người đi lại tại khu L, thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì dừng xe để sử dụng ma túy, Hoàng Văn Đ xuống xe, xe vẫn nổ máy và bật đèn pha để chiếu sáng, rồi Đ lấy từ túi quần ra 02 gói nhỏ ma túy đựng trong bao thuốc lá THĂNG LONG, đưa cho H2 01 gói ma túy, H2 mở gói ma túy ra, trích lấy một nửa gói đổ vào xi lanh do H2 tự đem theo người từ trước để pha chế, phần ma túy còn thừa H2 gói lại và đưa cho Đ cất giữ. Hằng pha chế ma túy xong thì chia một nửa dung dịch ma túy từ xi lanh của H2 vào xilanh của Đ (xilanh do Đ tự mang theo từ trước), rồi cả hai tự sử dụng bằng hình thức tiêm ma túy vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, H2 điều khiển xe mô tô chở Đ đi đến quán internet của anh Lý Văn T3, tại thôn N, xã B, huyện P cùng nhau chơi game, đến khoảng 21 giờ cùng ngày 23/12/2023, Đ và H2 cùng nhau đi ra quán ốc tại khu vực bến xe khách huyện P, thuộc thôn Đ, xã B, huyện P để ăn ốc thì bị Đội điều tra tổng hợp Công an huyện P bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 02 gói nhỏ có đặc điểm gồm: 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc thuốc lá bên trong còn một lớp giấy trắng có chữ viết và 01 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng có chữ viết, bên trong 02 gói nhỏ đều chứa chất màu nâu trắng nghi là ma túy, 02 gói nhỏ được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu D1. Ngoài ra còn thu giữ của Hoàng Văn Đ 01 xi lanh đã qua sử dụng, số tiền 64.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình liên quan của Hoàng Văn Đ tại thôn P, xã C, huyện P và Dương Văn H2 tại thôn N, xã C, huyện P, không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Sau khi thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đối với Triệu Văn C, ngày 24/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã khám xét khẩn cấp
3
chỗ ở và công trình liên quan đối với Triệu Văn C, sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả phát hiện và thu giữ: 01 gói nhỏ được gói bằng giấy có in chữ ở cả hai mặt bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là chất ma túy, cất tại bên trong chiếc mũ vải màu đen đặt trên bàn trang điểm kê trong phòng ngủ của C, niêm phong trong phong bì ký hiệu K1; 01 gói nhỏ được gói bằng giấy có in chữ cả hai mặt bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là chất ma túy, được cất trong chiếc hộp bằng bìa cứng màu đen, đặt trên bàn trang điểm kê trong phòng ngủ của C, niêm phong vào phong bì ký hiệu K2; 01 gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng dạng bột nghi là chất ma túy, tại bên trong túi bên phải, phía trước chiếc áo khoác màu xám treo trong tủ quần áo kê trong phòng ngủ của C, niêm phong vào phong bì ký hiệu K3; Thu giữ 01 hộp màu đen bên trong chứa 08 mảnh giấy có in chữ. Khi khám xét C không có mặt ở nhà, sau khi hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị phát hiện, ngày 26/12/2023 C đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
Tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng chất nghi ma túy thu giữ của Đ, C, H2, kết quả: Chất màu trắng nghi là ma túy trong phong bì ký hiệu K1, K2, K3 thu giữ của Triệu Văn C có khối lượng là 0,19g (không phẩy một chín gam). Chất màu nâu trắng nghi là ma túy trong phong bì ký hiệu D1 thu giữ của Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2 có khối lượng là 0,13g (không phẩy một ba gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất nghi là ma túy thu giữ của C, Đ, H2 được niêm phong vào phong bì ký hiệu G1, G3, D6 và gửi mẫu đi giám định. Các giấy gói, vỏ phong bì cũ đã niêm phong để bảo quản theo quy định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 39/QĐ-CSĐT ngày 25/12/2023 và Quyết định trưng cầu giám định số 01/QĐ-CSĐT ngày 03/01/2024 để xác định khối lượng, loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số 26/KL-KTHS ngày 29/12/2023 và Kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bột màu nâu trắng trong phong bì ký hiệu D6, mẫu chất màu trắng trong 02 phong bì ký hiệu G1, G3 gửi giám định là ma túy loại heroine (heroin). Mẫu chất bột màu nâu trắng trong phong bì ký hiệu D6 có khối lượng là 0,13g (không phẩy một ba gam). Tổng khối lượng mẫu chất trong 02 phong bì ký hiệu G1, G3 là 0,19g (không phẩy một chín gam).
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu D6 còn lại 0,09g (không phẩy không chín gam), mẫu chất trong phong bì ký hiệu G1 còn lại 0,08g (không phẩy không tám gam), mẫu chất trong phong bì ký hiệu G3 còn lại 0,04g (không phẩy không bốn gam), cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T23 và T34 hoàn trả cho cơ quan trưng cầu.
Bị cáo Triệu Văn C khai nhận: Ngày 21/12/2023, C đi đến cầu B, thuộc thôn Bản Ngù, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn mua được 01 gói ma túy, loại heroine với một người đàn ông lạ mặt với giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), C mang về nhà chia thành các gói nhỏ (không nhớ số lượng bao nhiêu gói)
4
để bản thân sử dụng và bán cho người khác. Buổi chiều ngày 23/12/2023, C được bán cho Hoàng Văn Đ 02 gói ma túy loại heroine với giá 300.000 đồng, địa điểm bán tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, khi C bán ma túy cho Đ thì H2 ngồi tại chỗ dựng xe nhìn thấy. Số ma túy thu giữ được tại nhà của C đều là ma túy loại heroine của C, mục đích dùng để bản thân sử dụng và bán cho người khác để kiếm lời.
Ngày 01 tháng 4 năm 2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Triệu Văn C, Dương Văn H2 và Hoàng Văn Đ diễn lại toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại đoạn đường B, thuộc thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, cho Hoàng Văn Đ và Dường Văn H3 tự diễn lại hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại đoạn đường vắng khu L, thuộc thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả thực nghiệm điều tra về địa điểm, vị trí và hành vi phạm tội đều phù hợp với lời khai của các bị cáo.
Đối với bị cáo Hoàng Văn Đ, ngoài phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xác định bị cáo Đ còn có hành vi dùng tiền của bản thân, mua chất ma túy loại heroine cung cấp cho Dương Văn H2 sử dụng bằng hình thức tiêm chất ma túy vào cơ thể. Do vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Văn Đ đã bị khởi tố bổ sung về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Triệu Văn C, Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2 đều là người nghiện chất ma túy, loại heroine, quá trình giải quyết vụ án đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2 tích cực hợp tác giúp Cơ quan điều tra phát hiện thêm tội phạm mới, khai ra hành vi phạm tội của Triệu Văn C. Bị cáo Triệu Văn C, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, ngày 26/12/2023 đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P. Lời khai của các bị cáo đều phù hợp với nhau và phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo Dương Văn H2 và Hoàng Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Triệu Văn C phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm do năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đến ngày 18/5/2022 chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSPN ngày 17/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử bị cáo Triệu Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Dương Văn H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Hoàng Văn Đ về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng
5
như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố.
Bị cáo Triệu Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Triệu Văn C từ 36 đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải thi hành hình phạt chung của cả hai tội.
Áp dụng Điều 65, Điều 56 tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” của bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu hình phạt chung của cả hai bản án.
Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Dương Văn H2 từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tổng hợp hình phạt 07 (Bảy) tháng tù tại bản án số 08/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Dương Văn H2 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Hoàng Văn Đ, Dương Văn H2, Triệu Văn C là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn,Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2 thuộc hộ nghèo, Triệu Văn C không thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
6
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 23/12/2023, sau khi làm thuê nhận được 300.000 đồng tiền công, Đ đi về nhà thì gặp Dương Văn H2 và rủ H2 đi mua ma túy, loại heroine về sử dụng thì được H2 đồng ý, H2 không có tiền, Đ đưa xe mô tô biển kiểm soát 11V1-023.27 do Đối mượn của anh Hà Trung T2 sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã B, huyện P cho H2 điều khiển chở theo Đ đi đến đoạn đường B thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện B gặp Triệu Văn C trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, H2 dừng xe ở cạnh đường và ngồi trên xe đợi, còn Đ đi bộ mua với C 02 gói ma túy với giá 300.000 đồng, H2 chứng kiến việc Đ mua ma túy với C.
Sau khi mua được ma túy, H2 điều khiển xe chở Đ đi đến đoạn đường vắng người đi lại tại khu L, thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì dừng xe để sử dụng ma túy, Hoàng Văn Đ xuống xe, xe vẫn nổ máy và bật đèn pha để chiếu sáng, rồi Đ lấy từ túi quần ra 02 gói nhỏ ma túy đựng trong bao thuốc lá THĂNG LONG, đưa cho H2 01 gói ma túy, H2 mở gói ma túy ra, trích lấy một nửa gói đổ vào xi lanh do H2 tự đem theo người từ trước để pha chế, phần ma túy còn thừa H2 gói lại và đưa cho Đ cất giữ. Hằng pha chế ma túy xong thì chia một nửa dung dịch ma túy từ xi lanh của H2 vào xilanh của Đ (xi lanh do Đ tự mang theo từ trước), rồi cả hai tự sử dụng bằng hình thức tiêm ma túy vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, H2 điều khiển xe mô tô chở Đ đi đến quán internet của anh Lý Văn T3, tại thôn N, xã B, huyện P cùng nhau chơi game, đến khoảng 21 giờ cùng ngày 23/12/2023, Đ và H2 cùng nhau đi ra quán ốc tại khu vực bến xe khách huyện P, thuộc thôn Đ, xã B, huyện P thì bị Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 0,13g chất ma túy, loại heroine. Số ma túy thu giữ được khi khám
7
xét của bị cáo Triệu Văn C là 0,19g bị cáo C tàng trữ để sử dụng và bán cho người khác.
Hành vi của bị cáo Triệu Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo Hoàng Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015
Hành vi của bị cáo Dương Văn H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."
8
Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội.
[3].Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Triệu Văn C có nhân thân xấu, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị Tòa án xét xử về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", bị cáo không lấy đó làm bài học mà sau khi ra tù vẫn tiếp tục phạm tội. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và bị cáo có bà nộ là bà Bế Thị O được tặng thưởng huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm do năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đến ngày 18/5/2022 chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích.
Bị cáo Hoàng Văn Đ có nhân thân xấu, bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, nhưng ngày 12/12/2023 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội mới. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tích cực hợp tác giúp Cơ quan điều tra phát hiện thêm tội phạm mới đó là khai ra hành vi phạm tội của Triệu Văn C, do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Bị cáo Dương Văn H2 nhân thân xấu, trong quá khứ bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính và bị Tòa án đưa ra xét xử nhiều lần, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội mới. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tích cực hợp tác giúp Cơ quan điều tra phát hiện thêm tội phạm mới đó là khai ra hành vi phạm tội của Triệu Văn C, do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
9
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo Hoàng Văn Đ, Dương Văn H2 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2. Qua xác minh xác định bị cáo Triệu Văn C có kinh tế khá giả, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước và để răn đe phòng ngừa chung.
Đánh giá vai trò đồng phạm của bị cáo Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2 đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đ và H2 không có sự phân công trong việc thực hiện hành vi, do vậy xác định đây chỉ là đồng phạm giản đơn, khi định hình phạt bị cáo Đ và H2 phải chịu hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội.
Về tổng hợp hình phạt của hai bản án:
Ngày 12/12/2023 Hoàng Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST, căn cứ khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự thì hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo sẽ chuyển thành 24 tháng tù giam và được tổng hợp với bản án này.
Ngày 10/4/2024 Dương Văn H2 bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST, căn Điều 56 của Bộ luật hình sự thì hình phạt 07 tháng tù sẽ được tổng hợp với bản án này.
[4]. Về vật chứng của vụ án:
- 01 xi lanh đã qua sử dụng, tạm giữ của Hoàng Văn Đ1 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG đã qua sử dụng, tạm giữ của Hoàng Văn Đ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 hộp màu đen, nắp hộp có in chữ DUBAI ROYAL và hoa văn màu đỏ, bên trong hộp có 08 mảnh giấy có in chữ, tạm giữ của Triệu Văn C không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Mobell, loại bàn phím vật lý màu đen đã qua sử dụng, số emeil là 810033600897610, số emei2 là 810034600897610 bên trong gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có 06 số seri cuối là 281111, tạm giữ của Dương Văn H2 không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo H2 không yêu cầu được lấy lại chiếc điện thoại vì đã bị hỏng, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu D5, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì cũ ký hiệu D1 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu K1, K2 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
10
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G4, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu K3 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 phong bì niêm phong ký hiệu T23 và T34, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ và toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 64.000đ (sáu mươi bốn nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu M, tạm giữ của Hoàng Văn Đ không liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Đ.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra thu giữ của Hoàng Văn Đ 01 xe mô tô biển số 11V1-023.27, chiếc xe là tài sản thuộc sở hữu của anh Hà Trung T2. Kết quả điều tra xác định, khi bị cáo Hoàng Văn Đ sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội thì anh T2 không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
[5] Về biện pháp tư pháp
Bị cáo Triệu Văn C bán cho Hoàng Văn Đ hai gói ma túy được số tiền 300.000 đồng, tuy nhiên bị cáo đã tiêu dùng hết. Do vậy cần buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ bán ma túy cho Hoàng Văn Đ mà có.
Ngày 23/7/2024 ông Triệu Văn H trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nộp 200.000đ thay cho bị cáo Triệu Văn C tại biên lai thu số 0001963 ngày 23/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, do vậy cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[6]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
[7]. Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Đối với người đàn ông mà bị cáo không quen biết đã bán ma túy cho Triệu Văn C vào ngày 21/12/2023 tại cầu B, thuộc thôn Bản Ngù, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở xác minh, làm rõ.
Đối với Hà Trung T2 là người đã cho Hoàng Văn Đ mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11V1-023.27, tuy nhiên khi bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì anh T2 không biết do vậy không đề cập xử lý.
[8]. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn Đ, Dương Văn H2, Triệu Văn C là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình Hoàng Văn Đ và Dương Văn H2 thuộc hộ nghèo, các bị cáo có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Đ, Dương Văn H2 và Triệu Văn C.
Vì các lẽ trên.
11
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Dương Văn H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Triệu Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Triệu Văn C 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
[3]. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải thi hành hình phạt chung của cả hai tội là 39 (Ba mươi chín) tháng tù.
Áp dụng khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” của bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu hình phạt chung của cả hai bản án là 63 (Sáu mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
[4]. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Dương Văn H2 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữa trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt 07 (Bảy) tháng tù tại bản án số 08/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Dương Văn H2 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.
[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 xi lanh đã qua sử dụng, tạm giữ của Hoàng Văn Đ
- 01 vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG đã qua sử dụng, tạm giữ của Hoàng Văn Đ.
- 01 hộp màu đen, nắp hộp có in chữ DUBAI ROYAL và hoa văn màu đỏ, bên trong hộp có 08 mảnh giấy có in chữ, tạm giữ của Triệu Văn C.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu D5, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì cũ ký hiệu D1.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu K1, K2.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G4, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu K3.
- 02 phong bì niêm phong ký hiệu T23 và T34, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ và toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định.
- 01 điện thoại di động Mobell, loại bàn phím vật lý màu đen đã qua sử dụng, số emeil là 810033600897610, số emei2 là 810034600897610 bên trong gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có 06 số seri cuối là 281111.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Đối s tiền 64.000₫ (sáu mươi bốn nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu M.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
Buộc bị cáo Triệu Văn C nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) do bán ma túy cho Hoàng Văn Đ mà có.
Tạm giữ số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) của ông Triệu Văn H trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nộp thay cho bị cáo Triệu Văn C tại biên lai thu số 0001963 ngày 23/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Triệu Văn C.
[6]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Văn Đ, Dương Văn H2 và Triệu Văn C.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
[7]. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
13
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thanh Tuấn |
14
15
Bản án số 15/2024/HS - ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm (mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 15/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán, Tàng trữ, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn Ch "Mua bán trái phép chất ma túy"
