Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-7-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hải Ly

- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phan Tấn Lãm

Bà Nguyễn Thị Qúy

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 42/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Thanh H, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Điểu R, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Thị Thanh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Điểu R kết hôn năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 10 tháng 5 năm 2016. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về quan điểm sống. Từ tháng 12 năm 2020 thì bà và ông Điểu R sống ly thân cho đến nay. Nay tình

1

cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Điểu R.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà và ông Điểu R có 02 con chung là Điểu Thạch Tuấn A, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2017 và Điểu Thạch Ngọc K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2020 khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Yêu cầu ông Điểu R cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng (mỗi con 1.000.000 đồng mỗi tháng).

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Điểu R đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có bản lời khai.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đều thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không nói chuyện, chia sẻ được với nhau nên mâu thuẫn càng trầm trọng, hiện nay đã sống ly thân và nguyên đơn có nguyện vọng được ly hôn; Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn; giao hai con chung là Điểu Thạch Tuấn A, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2017 và Điểu Thạch Ngọc K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2020 cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết thì đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Thạch Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Điểu R, ông R có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Điểu R vắng mặt không có lý do. Xét thấy, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

2

[2]Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông R được hình thành trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ ngày 10 tháng 5 năm 2016, đúng quy định pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Thạch Thị Thanh H, Hội đồng xét xử thấy: Bà H trình bày trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nay mâu thuẫn trở nên trầm trọng, vợ chồng không nói chuyện được với nhau, đời sống hôn nhân trở nên căng thẳng, mệt mỏi, không ai quan tâm đến ai đặc biệt từ tháng 12 năm 2020 bà và ông R sống ly thân cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 28 tháng 6 năm 2024 Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi ông RH cư trú được biết vợ chồng ông RH có xảy ra mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân; đại diện thôn đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả. Từ những căn cứ trên cho thấy hôn nhân giữa bà H ông R đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Thị Thanh H.

[2.2] Về con chung: Bà H ông R có hai con chung là Điểu Thạch Tuấn A, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2017 và Điểu Thạch Ngọc K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2020 khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cả hai con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Yêu cầu ông Điểu R cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng (mỗi con 1.000.000 đồng mỗi tháng). Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ông Điểu R không hợp tác, không có ý kiến gì về con và cháu Tuấn A mong muốn được sống với mẹ nên để bảo đảm quyền lợi, cũng như sự ổn định của các con chưa thành niên. Do đó, cần giao con chung là Điểu Thạch Tuấn AĐiểu Thạch Ngọc K cho bà H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ông Điểu R phải cấp dưỡng nuôi con chung 2000.000 đồng/tháng (mỗi con 1.000.000 đồng/ tháng). Ông Điểu R có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con là phù hợp.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Bà Thạch Thị Thanh H phải chịu; án phí cấp dưỡng nuôi con ông Điểu R phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147; 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51; 53; 56; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

3

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị Thanh H.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Thanh H được ly hôn ông Điểu R .

2/ Về việc nuôi con: Giao cho bà Thạch Thị Thanh H trực tiếp nuôi con chung Điểu Thạch Tuấn A, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2017 và Điểu Thạch Ngọc K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2020 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ông Điểu R phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng (mỗi con 1.000.000 đồng/tháng).

Sau khi ly hôn, bà H ông R có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.

Vì lợi ích mọi mặt của con, bà H ông R có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: - Bà Thạch Thị Thanh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008043 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Điểu R phải nộp.

4/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bính Phước;
  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đăk Ơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hải Ly

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger