|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:15/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Chí Thanh
2. Ông Phạm Minh Hoan
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông: Bùi Xuân Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Minh Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 05/7/1993 tại huyện B, thành phố Hà Nội;
Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đỗ Quốc L, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Vợ: Cao Thị Thùy L1, sinh năm 1999 (đã ly hôn);
Con: có 02 con (lớn 08 tuổi, nhỏ 06 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 37/2018/HSST ngày 23/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. (Đã thi hành xong các quyết định của bán án ngày 23/01/2020 và đương nhiên được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).
2. Họ và tên: Lê Hải L2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 14/3/1993 tại huyện B, thành phố Hà Nội;
Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Xuân K, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Bùi Thị L3, sinh năm 1970; Vợ: Lộc Thị N, sinh năm 1995; Con: có 02 con (lớn 05 tuổi, nhỏ 03 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 24/2017/HSST ngày 16/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. (Đã thi hành xong các quyết định của bán án ngày 02/02/2019 và đương nhiên được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh: Phan Huỳnh Đ1, Sinh năm 1997
Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện B, TP . (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 35 phút ngày 16/01/2024, tại lề đường Quốc lộ 32 thuộc khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện T tiến hành kiểm tra Lê Hải L2 và Phan Huỳnh Đ1, sinh năm 1997 (đều ở thôn P, xã P, huyện B, TP Hà Nội), đã phát hiện Lê Hải L2 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ: 02 túi nilon màu trắng có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (L2 khai nhận là ma túy đá tàng trữ với mục đích sử dụng) và 01 điện thoại di động Iphone có số thuê bao 0965.379.192. Tổ công tác của Công an huyện T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hải L2 và dẫn giải đối tượng về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ. Tại Kết luận giám định số 118/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 túi nilon gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,397gam.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Hải L2 và Phan Huỳnh Đ1 nhưng không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Hải L2 khai nhận nguồn gốc số ma tuý L2 tàng trữ trên là do L2 mua của Đỗ Minh Đ ở thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Căn cứ lời khai của Lê Hải L2, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Minh Đ và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động S có số thuê bao 0384.710.828.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Minh Đ và Lê Hải L2 khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Buổi tối ngày 15/01/2024, Đỗ Minh Đ do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên mượn xe môtô đi đến khu vực Chợ M thuộc huyện B, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy, tại đây Đ gặp một người đàn ông lái xe ôm (Đ không rõ tên tuổi, địa chỉ người này ở đâu), Đ hỏi người này có biết ai có ma túy đá bán không để mua 1.000.000đồng thì người này bảo Đ là người này có bán, Đ đưa cho người này 1.000.000đồng rồi người này đưa lại cho Đ 02 gói ma túy. Sau đó, Đ đem số ma túy vừa mua được về nhà lấy ra một phần nhỏ để sử dụng, phần còn lại Đ đem cất đi để sử dụng sau.
Khoảng hơn 12 giờ ngày 16/01/2024, Lê Hải L2 nhận được điện thoại gọi từ ứng dụng Messenger của Cù Văn H1 (sinh năm 1996, ở khu G, xã T, huyện T) nhờ mua 1.000.000đồng ma tuý đá và dặn L2 mua được ma túy thì đem đến nhà H1 để cùng nhau sử dụng. L2 đồng ý, H1 chuyển tiền 1.000.000đồng từ tài khoản V số 9332271798 của H1 đến tài khoản ngân hàng V1 của L2 số [...].
Sau khi nhận tiền L2 gọi điện thoại từ số điện thoại 0965.379.xxx đến số thuê bao 0384.710.828 của Đỗ Minh Đ để hỏi mua 1.000.000đồng ma tuý đá, Đ đã đồng ý và hẹn gặp L2 đến cổng nhà mình để đưa ma túy. L2 đã chuyển 1.000.000đồng từ tài khoản số [...] của L2 đến tài khoản ngân hàng M1 số 0384710828 của Đ qua ứng dụng trên điện thoại di động. Lúc này, Phan Huỳnh Đ1 (sinh năm 1997) là bạn ở cùng khu đang chơi tại nhà L2, nên L2 mượn xe môtô rồi rủ Đ1 đi cùng (L2 không nói cho Đ1 biết việc đi mua ma túy). Sau khi nghe L2 gọi điện hỏi mua ma túy thì Đ lấy 02 gói ma túy đã cất giấu từ trước tiếp tục lấy ra một phần nhỏ để sử dụng, phần còn lại Đồng cất trong người để bán cho L2. Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, L2 và Đ1 đến nhà Đ thì Đ1 vào trong nhà ngồi chơi, còn Đ và L2 ra ngoài cổng, Đ đưa cho L2 02 túi nilon màu trắng có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất ma tuý loại “Methamphetamine”. L2 cất ma túy trong người rồi gọi Đ1 ra cùng đi về nhà trả xe, rồi L2 thuê xe taxi rủ Đ1 đi đến nhà H1 chơi (Đ1 không biết việc L2 mua ma túy của Đ và đem ma túy đến nhà H1). Khi đi đến đoạn đường Q thuộc khu G, xã T, huyện T, L2 và Đ1 xuống xe đi bộ được một đoạn thì bị Tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên. Lời khai của Đỗ Minh Đ và Lê Hải L2 phù hợp với kết quả kiểm tra trên điện thoại di động thu giữ của hai đối tượng và các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác minh và triệu tập Cù Văn H1 đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, H1 khai nhận có mối quan hệ quen biết với Lê Hải L2 và không liên quan gì đến việc mua bán, sử dụng ma túy của L2, ngày 16/01/2024, H1 có liên lạc qua Messenger với L2 và chuyển trả L2 1.000.000đồng qua tài khoản ngân hàng là tiền vay nợ cá nhân. L2 khai sau khi liên lạc qua M với H1 thì L2 đã xóa hết nội dung liên quan, còn chiếc điện thoại của H1 sử dụng liên lạc với L2 thì H1 đã làm rơi mất hiện không tìm thấy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Cù Văn H1, Lê Hải L2, Đỗ Minh Đ và Phan Huỳnh Đ1 đã xác định H1 âm tính với chất ma tuý (không sử dụng ma túy); đối với Lê Hải L2, Đỗ Minh Đ và Phan Huỳnh Đ1, cả ba đều dương tính với chất ma túy “Methamphetamine” (có sử dụng ma túy).
Đối với các phương tiện là xe môtô Đỗ Minh Đ và Lê Hải L2 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội: Quá trình điều tra Đ và L2 đều khai nhận các phương tiện trên các đối tượng mượn của những người đang làm thợ xây nhà hàng xóm ở gần nhà và những người này đều không biết Đ và L2 sử dụng xe môtô để đi mua, bán và tàng trữ trái phép chất ma túy.
Cáo trạng số: 14/CT -VKSTN ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Đỗ Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Lê Hải L2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh Đồng phạm t “Mua bán trái phép chất ma túy” Bị cáo Lê Hải L2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Đỗ Minh Đ: từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.
Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Lê Hải L2: từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.
- Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản gì có giá trị, công việc, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng gồm:
- Tịch thu và tiêu hủy: 0,316gam chất ma túy loại “Methamphetamine” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 02 sim số thuê bao: 0384.710.828 (của Đ) và 0965.379.192 (của L2);
- Buộc Đỗ Minh Đ phải nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 1.000.000đồng (là tiền Đ bán ma túy cho L2)
- Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 02 chiếc điện thoại di động của Đ và L2 (Có đặc điểm như biên bản thu giữ);
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh Đ và bị cáo Lê Hải L2 hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 14 giờ 35 phút ngày 16/01/2024, tại lề đường Quốc lộ 32 thuộc khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế- ma túy Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Lê Hải L2 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,397gam chất ma túy loại “Methamphetamine” nhằm mục đích để sử dụng.
Trước đó khoảng 13 giờ ngày 16/01/2024, Đỗ Minh Đ đã có hành vi bán trái phép 0,397gam chất ma túy loại “Methamphetamine” cho Lê Hải L2 với giá 1.000.000đồng tại thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội.
Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản làm việc; kết luận giám định; vật chứng vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Bị cáo Đỗ Minh Đồng phạm t “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Hải L2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Điểm c, Khoản 1, Điều 249, Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,..
c, H2, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại tới chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy của Nhà nước gây mất trật tự trị an trên địa bàn và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy, phải đưa ra xét xử và có hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:
Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu bị cáo Đỗ Minh Đ đã bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Lê Hải L2 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại cơ quan công an và thẩm vấn công khai tại phiên tòa xét thấy các bị cáo hiện đang sống cùng với gia đình, không có tài sản riêng, là lao động tự do và có thu nhập không ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[5] Xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 0,316gam chất ma túy loại “Methamphetamine” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 02 sim số thuê bao: 0384.710.828 (của Đ) và 0965.379.192 (của L2) cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
- Đối với 02 chiếc điện thoại di động của Đ và L2 (Có đặc điểm như biên bản thu giữ). Là công cụ liên lạc dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
- Thu hồi của bị cáo Đỗ Minh Đ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là tiền mua ma túy cho L2 ngày 16/01/2024 để nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[6] Đối với Phan Huỳnh Đ1 là người đi cùng Lê Hải L2 khi L2 thực hiện hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra, xác định Phan Huỳnh Đ1 không biết việc L2 mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý, phù hợp với lời khai của L2 và các tài liệu cơ quan điều tra thu thập được. Vì vậy, Phan Huỳnh Đ1 không đồng phạm với L2 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tuy nhiên, quá trình xét nghiệm chất ma túy đối với Phan Huỳnh Đ1 có kết quả dương tính với chất ma túy “Methamphetamine” (có sử dụng). Phan Huỳnh Đ1 khai nhận vào ngày 15/01/2024, Đ1 có sử dụng ma tuý đá cùng một số người bạn mới quen tại quán karaoke ở khu vực huyện T, tỉnh Phú Thọ và Đ1 không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể những người bạn này là ai và địa điểm Đ1 sử dụng ma tuý cụ thể ở đâu. Bản thân Đ1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc đã bị kết án về tội phạm có liên quan đến ma túy. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Huỳnh Đ1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với Cù Văn H1 (theo lời khai của L2) là người nhờ Lê Hải L2 mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra, H1 xác nhận có liên lạc và chuyển tiền 1.000.000đồng qua tài khoản ngân hàng cho L2 nhưng đây là tiền vay nợ cá nhân giữa H1 và L2, không liên quan gì đến việc mua bán, sử dụng ma túy và kết quả xét nghiệm xác định Cù Văn H1 không sử dụng chất ma tuý. Ngoài lời khai của L2 thì không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc L2 khai H1 đã nhờ L2 đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng (Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng H1 không thừa nhận). Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với Cù Văn H1 là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đỗ Minh Đ ngày 15/01/2024 (theo lời khai của Đ) nhưng Đ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu và ngoài lời khai của Đ thì không có tài liệu gì khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để để làm rõ, xử lý là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 249 và Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[1] Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh Đồng phạm t “Mua bán trái phép chất ma túy”
Bị cáo Lê Hải L2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Minh Đ.
+ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lê Hải L2 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hải L2.
[2] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 00,316gam chất ma túy loại “Methamphetamine” (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 02 sim số thuê bao: 0384.710.828 (trong máy điện thoại của Đ) và 0965.379.xxx (trong máy điện thoại của L2);
- Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 02 (Hai) chiếc điện thoại di động gồm:
+ 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã qua sử dụng (thu của bị cáo Đ).
+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng (thu của bị cáo L2).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông).
- Thu hồi của bị cáo Đỗ Minh Đ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là tiền bị cáo L2 mua ma túy của bị cáo Đ ngày 16/01/2024 để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Minh Đ và bị cáo Lê Hải L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
[4] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thị Kim Nguyên |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo mua bán trái phép chất ma túy
