Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 4 - 2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Bình.

Bà Nguyễn Thị Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 291/2023/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/12/2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn anh Trần Văn S trình bày: Nguyên đơn và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh L đăng ký kết hôn ngày 19/12/2016 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian ngắn thì chị Nguyễn Thị Thanh L về sống cùng bố mẹ đẻ cho đến nay. Nguyên nhân vợ chồng không chung sống với nhau là do chị Nguyễn Thị Thanh L sức khỏe yếu, không làm tròn trách nhiệm của người vợ và người dâu trong gia đình. Nguyên đơn đã nhiều lần khuyên nhủ để đoàn tụ vợ chồng nhưng chị Nguyễn Thị Thanh L không đồng ý. Từ năm 2017 đến nay vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay thấy không còn tình nghĩa vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh L. Về con chung: Giữa nguyên đơn và chị Nguyễn Thị Thanh L chưa có con chung. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh L thống nhất với lời khai của nguyên đơn về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, tính chất hôn nhân. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn không chung sống hòa hợp với gia đình chồng và bị sẩy thai, sức khỏe yếu nên bị đơn về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Thời gian bị đơn sinh sống cùng bố mẹ đẻ, anh Trần Văn S có đến thăm và khuyên nhủ bị đơn về chung sống. Bị đơn có về chung sống một vài lần nhưng không thể hòa hợp. Từ năm 2020 đến nay, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau. Hiện bị đơn không còn tình cảm với anh Trần Văn S, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống để xây dựng hạnh phúc gia đình nên bị đơn đồng ý ly hôn. Về con chung: Bị đơn và anh Trần Văn S chưa có con chung. Về tài sản chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp; trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thu thập chứng cứ, thủ tục tống đạt đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình tự quy định từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Trần Văn S được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh L. Về con chung: Anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L chưa có con chung nên không xem xét. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Anh Trần Văn S yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh L có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trần Văn S và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh L vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59/2016, ngày 19 tháng 12 năm 2016 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống chung với gia đình chồng nhưng không hòa hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong xây dựng hạnh phúc gia đình. Từ năm 2017 đến nay, anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau và không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy vợ chồng không chung sống với nhau, không yêu thương và không còn quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L đều có nguyện vọng được ly hôn nhau. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn S được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh L.

[2.2]. Về con chung: Anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L thống nhất khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L.
  2. Về con chung: Anh Trần Văn S và chị Nguyễn Thị Thanh L chưa có con chung.
  3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
  4. Về án phí: Anh Trần Văn S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001547, ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Anh Trần Văn S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VPTA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn

  • Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Trần Thanh S yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger