Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HOÀ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án sô: 15/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25/8/2023

“V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Ngô Sỹ Lượng.

2. Ông Hồ Văn Hào.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1989.

Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An

Chỗ ở hiện nay: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (có mặt).

Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1989.

Trú tại: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/5/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị L thống nhất trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn H kết hôn với nhau vào ngày 29 tháng 11 năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An, hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H thường xuyên uống rượu về chửi bới, xúc phạm, không tôn trọng chị, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải, khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày

càng trầm trọng mà không thể hàn gắn được. Do đó vợ chồng đã số ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay không còn ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn H.

Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Lê Thị Như Q, sinh ngày 17/6/2013 và Lê Văn T, sinh ngày 01/01/2018, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.

Nay nếu ly hôn con chung Lê Thị Như Q, sinh ngày 17/6/2013 có nguyện vọng được ở với chị, còn con chung là Lê Văn T còn nhỏ nên chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả hai con chung của vợ chồng đến lúc con chung trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện tại chị đang làm phục vụ tại quán ăn T1 mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và chỗ ăn ở ổn định, đảm bảo các điều kiện tốt nhất để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Lê Văn H: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh H. Tuy nhiên anh H đều vắng mặt, không lên Tòa án làm việc theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án mà không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị L được ly hôn với anh Lê Văn H.

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Đặng Thị L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của chị L và anh H đến lúc con chung trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị L không yêu cầu anh Lê Văn H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: Chị Đặng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Đặng Thị L phải chịu toàn bộ án phí LHST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Đặng Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Lê Văn H đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà.

Bị đơn anh Lê Văn H đã được Toà án triệu tập phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L và anh Lê Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 11 năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị L và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị L, anh H là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị L nguyên nhân mẫu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H thường xuyên uống rượu về chửi bới, xúc phạm, không tôn trọng chị mặc dù đã được gia đình hòa giải khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng mà không thể hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên đã số ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Sau khi thị lý vụ án Toà án đã triệu tập, thông báo hợp lệ cho anh H để giải quyết vụ án nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh H không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Mặt khác tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H tại địa phương xác định chị L và anh H có xảy ra mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân nên khả năng để chị L và anh H đoàn tụ là không khả thi. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã trầm trọng mà không thể hàn gắn được.

Xét mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị L được ly hôn với anh H như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa là có căn cứ.

2.2. Về nuôi con chung: Chị L và anh H có hai con chung là Lê Thị Như Q, sinh ngày 17/6/2013 và Lê Văn T, sinh ngày 01/01/2018, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.

Xét chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung của chị L và anh H và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị L hiện đang làm phục vụ tại quán ăn T1 mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và chỗ ăn ở ổn định, đảm bảo các điều kiện tốt nhất để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hơn nữa con chung là Lê Thị Như Q cũng có nguyện vọng được ở với chị L. Quá trình Tòa án xác minh tại địa phương xác định được trong quá trình chung sống chị L, anh H đều không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Mặt khác quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh H đều vắng mặt không có lý do. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho hai con chung của chị L và anh H được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi chị L, anh H ly hôn, cần giao hai con chung của chị L, anh H cho chị L được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa là phù hợp.

Chị L không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về chia tài sản: Chị Đặng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[3] Về án phí: Buộc chị Đặng Thị L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị L được ly hôn với anh Lê Văn H.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao cho chị Đặng Thị L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của chị L và anh H là Lê Thị Như Q, sinh ngày 17/6/2013 và Lê Văn T, sinh ngày 01/01/2018, đến lúc con chung trưởng thành.
    2. Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Anh Lê Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2.4. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về chia tài sản: Chị Đặng Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
  2. Về án phí: Chị Đặng Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008833 ngày 01/6/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An (chị L đã nộp đủ tiền án phí).

Trường hợp Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Thái Hoà;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hoà;
  • - UBND xã Nghĩa Mỹ (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Văn Diên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger