|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-7-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải;
- Ông Lữ Văn Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Huế Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Vinh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 203/2023/TLST-HN, ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXX-ST, ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1990; (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Nhật Tr, sinh năm 1988; (Vắng mặt)
- Cùng trú tại: Khu vực A, phường B, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị D trình bày:
Chị và bị đơn kết hôn năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Lái Hiếu. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do nguyên đơn và bị đơn bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn ngày một trầm trọng dẫn đến chị và bị đơn đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn Trần Nhật Tr.
Về con chung: Chị và anh Tr có 01 con chung tên là Trần Phạm Nhật L (nam), sinh ngày 14/11/2016. Con chung hiện nay đang sống chung với chị, chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Trường cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn Trần Nhật Tr đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án; không cung cấp lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên Tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Việc chấp hành tố tụng của nguyên đơn đúng quy định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Nhật Tr; Con chung: Giao cho chị Phạm Thị D được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Phạm Nhật L (nam), sinh ngày 14/11/2016, chị D không yêu cầu nên anh Tr chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên. Hội đồng xét xử nhận đinh:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở xác định nguyên đơn chị Phạm Thị D và bị đơn anh Trần Nhật Tr thực tế sinh sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Lái Hiếu. Xét yêu câu xin ly hôn của chị D, Hội đồng xét xử nhận định, hôn nhân của chị D và anh Tr mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đồng thời ly thân từ năm 2020 đến nay, bị đơn trong quá trình giải quyết đã được triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt và không có lời trình bày, cho thấy bị đơn cũng không tha thiết với cuộc hôn nhân này, nên Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị D.
- [3] Về con chung: Xét con chung là cháu Trần Phạm Nhật L (nam), sinh ngày 14/11/2016 từ khi nguyên đơn và bị đơn ly thân đến nay con chung ở với nguyên đơn, cuộc sống của cháu đã ổn định. Ngoài ra, cháu L có nguyện vọng sống cùng mẹ. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung cho nguyên đơn được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho nguyên đơn không ai được quyền cản trở.
- [4] Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- [5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- [6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo luật định.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho nguyên đơn chị Phạm Thị D được ly hôn với bị đơn anh Trần Nhật Tr.
Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Phạm Nhật L (nam), sinh ngày 14/11/2016 cho nguyên đơn chị Phạm Thị D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Trần Nhật Tr không ai được quyền cản trở. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Phạm Thị D phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005656 ngày 13/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Cương |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mâu thuẫn gia đình
