Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 15/2024/KDTM-ST

Ngày: 24-6-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 75/2022/TLST-KDTM ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2024/QĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T2;

Địa chỉ: Số A đường D, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Trần Văn Đ – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 08/11/2021): Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988 – Chức vụ: Nhân viên; địa chỉ: Số A đường D, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X;

Địa chỉ: A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Ngọc Ánh T1 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc.

(Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, Công ty TNHH X vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – Ông Nguyễn Thanh T trình bày:

Ngày 13/4/2021, Công ty Cổ phần T2 (gọi tắt: Công ty T2) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt: Công ty X) có ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT với nội dung: Công ty T2 bán thép (Thép cuộn, thép tấm cán nóng, thép ống...) cho Công ty X; Kích thước, số lượng, giá cả: Được hai bên thống nhất theo từng đơn hàng.

Ngày 28/5/2021, hai bên ký kết đơn hàng số 01/TN-ASIA như sau: Tên hàng hóa: Thép tấm cán nóng; tiêu chuẩn: SS400; xuất xứ: Trung Quốc; thời gian thanh toán: Thanh toán chậm nhất 10 ngày kể từ ngày nhận hàng.

Tổng giá trị đơn hàng 144.126.000 đồng (Một trăm bốn mươi tư triệu một trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Ngày 04/6/2021, Công ty T2 tiến hành giao hàng và cung cấp đầy đủ các chứng từ: xác nhận bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng trị giá 144.126.032 đồng, biên bản giao hàng, lệnh xuất kho cho Công ty X.

Công ty T2 đã thực hiện đúng và đủ trách nhiệm của mình nhưng Công ty X không thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán đúng hạn. Cụ thể, từ ngày 14/6/2021 đến nay, Công ty X vẫn chưa thanh toán cho Công ty T2 số tiền 144.126.032 đồng của hóa đơn ký hiệu TN/19E 0005722. Việc chậm thanh toán này đã gây thiệt hại và tổn thất tài chính lớn đối với Công ty T2 nên Công ty T2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng và Cung cấp thiết bị công nghiệp ASIA thanh toán số tiền còn nợ là 144.126.032 đồng.
  • Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X trả tiền lãi phạt quá hạn (1,5%/tháng) tạm tính đến ngày 24/6/2024 là 80.293.135 đồng.

Tổng số tiền Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải trả cho Công ty Cổ phần T2 là 224.419.167 đồng (Hai trăm hai mươi bốn triệu, bốn trăm mười chín nghìn, một trăm sáu mươi bảy đồng).

Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu:

  • * Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng quy định pháp luật; Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
  • * Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định Công ty Trách nhiệm hữu hạn X còn nợ Công ty Cổ phần T2 số tiền 144.126.032 đồng theo đơn hàng số 01/TN-ASIA ngày 28/5/2021. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T2 yêu cầu Công ty TNHH X thanh toán số tiền gốc còn nợ là có căn cứ để chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán: Tại Điều IV của Hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT ngày 13 tháng 4 năm 2021 có thỏa thuận nếu Công ty X chậm thanh toán thì phải chịu mức lãi quá hạn là 1,5%/1 tháng trên tổng số tiền chậm thanh toán. Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại thì yêu cầu này của Công ty T2 là phù hợp nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T2, buộc Công ty X thanh toán số tiền còn nợ là 144.126.032 đồng và tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 1,5%/1 tháng trên số tiền chậm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả; Về án phí: Công ty X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn X có địa chỉ trụ sở tại: A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt; Công ty Trách nhiệm hữu hạn X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Công ty Cổ phần T2 khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X Thanh toán số tiền còn nợ và lãi phạt chậm trả theo Hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

[4] Về nội dung vụ án:

[4.1] Đối với nội dung yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc:

Ngày 13/4/2021, Công ty T2 và Công ty X có ký kết hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT. Việc ký kết hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT giữa Công ty T2 và Công ty X đã tuân thủ các quy định của pháp luật về mua bán hàng hóa, những nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm các điều cấm của pháp luật nên hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT có giá trị thực hiện đối với các bên đã ký kết.

Ngày 04/6/2021, Công ty T2 tiến hành giao hàng và cung cấp đầy đủ chứng từ: Xác nhận bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng trị giá 144.126.032 đồng, biên bản giao hàng, lệnh xuất kho cho Công ty X.

Công ty T2 đã thực hiện đúng và đủ trách nhiệm của mình nhưng về phía Công ty X không thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm. Cụ thể, từ ngày 14/6/2021 đến nay Công ty TNHH X vẫn chưa thanh toán cho Công ty Cổ phần T2 số tiền 144.126.032 đồng.

Ngày 08/9/2021, Công ty T2 đã lập Bảng đối chiếu công nợ, ghi nhận số nợ cuối kỳ của Công ty X là 144.126.032 đồng, Công ty X thừa nhận nợ và ký xác nhận.

Quá trình tố tụng, Tòa án đã ban hành Thông báo để phía bị đơn là Công ty X có ý kiến và cung cấp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến tại Tòa nên xem như đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ, từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định Công ty X còn nợ Công ty T2 số tiền là 144.126.032 đồng (Một trăm bốn mươi tư triệu một trăm hai mươi sáu nghìn không trăm ba mươi hai đồng).

Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 về việc buộc Công ty X phải thanh toán số tiền gốc còn nợ là 144.126.032 đồng là có cở sở chấp nhận.

[4.2] Đối với yêu cầu buộc Công ty X phải thanh toán tiền lãi phạt do chậm thanh toán:

Tại Điều IV của Hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT được ký kết giữa hai bên có quy định như sau: “Ngoài việc thanh toán hết các khoản nợ quá hạn, bên B phải chịu thêm tiền lãi phạt do chậm thanh toán theo lãi suất 1,5%/tháng trên tổng số tiền quá hạn (tiền phạt không xuất hóa đơn tài chính). Thời gian tính tiền phạt quá hạn tối đa 10 (mười) ngày. Nếu sau thời gian này, bên B vẫn chưa thanh toán thì bên A sẽ tiến hành thu hồi hàng hóa hoặc tài sản của bên B có giá trị tương đương với giá trị lô hàng bên A đã bán cho bên B và bên B phải chịu toàn bộ chi phí phát sinh (nếu có).”.

Căn cứ theo Điều 306 Luật thương mại, Công ty T2 có quyền yêu cầu tiền lãi do Công ty X chậm thanh toán. Lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng là 1,5%/tháng phù hợp với quy định nên được chấp nhận. Theo đó, tổng số tiền lãi do chậm thanh toán mà Công ty X phải trả cho Công ty T2 tính từ ngày 14/6/2021 đến ngày 24/6/2024 là 80.293.135 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi do chậm thanh toán mà Công ty X phải trả cho Công ty T2 tính từ ngày 14/6/2021 đến ngày 24/6/2024 là 224.419.167 đồng.

[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn X chịu 11.220.958 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần T2 số tiền 3.819.340 đồng (Ba triệu tám trăm mười chín nghìn ba trăm bốn mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004408 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.

[6] Quan điểm đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, Khoản 4 Điều 147, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Luật Thương mại 2005;

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T2.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T2 số tiền tính đến ngày 24/6/2024 là 224.419.167 đồng (Hai trăm hai mươi bốn triệu, bốn trăm mười chín nghìn, một trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 144.126.032 đồng, lãi phạt do chậm thanh toán là 80.293.135 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc số 143-21/TN-AISIAN/HDNT ngày 13/4/2021 cho đến khi thanh toán xong, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 11.220.958 đồng (Mười một triệu, hai trăm hai mươi nghìn, chín trăm năm mươi tám đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần T2 số tiền 3.819.340 đồng (Ba triệu tám trăm mười chín nghìn ba trăm bốn mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004408 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

6

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/KDTM-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 15/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger