|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày: 23 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Minh Ngọc |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Bà Nông Thị Hương |
| 2. Ông Mạc Ngọc Day |
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện H và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, tại Ủy ban nhân dân xã T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Trần Văn M, sinh ngày 22/8/1990 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, sinh năm 1944 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh T).
-
Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 01/8/1994 tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1964 và bà: Hoàng Thị T2, sinh năm 1966; có vợ: Nguyễn Thanh C, sinh năm 2002 (đã ly hôn) và chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 37/2012/HSST ngày 24/12/2012 của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang tuyên phạt 03 tháng tù về tội Không tố giác tội phạm (ngày 07/5/2013 đã chấp hành xong toàn bộ bản án)
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại điểm cầu Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
-
Lương Hồng Q, sinh ngày 09/9/1983 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Xuân H1, sinh năm 1964 và bà: Trần Thị H2, sinh năm 1964; có vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1984 và có 02 con, lớn sinh năm 2008 nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145 ngày 01/7/2005 của Công an huyện H3 xử phạt Lương Hồng Q 300.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản và Gây rối trật tự công cộng (ngày 08/7/2005 đã chấp hành xong toàn bộ quyết định xử phạt)
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại điểm cầu Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 11/2023, Trần Văn M (hiện đang làm công nhân tại khu công nghiệp V, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang) nảy sinh ý định mua pháo nổ (pháo hoa nổ) về bán kiếm lời. M sử dụng tài khoản Facebook có tên “Duy M1” tham gia vào nhóm chat có tên “Trao đổi mua bán pháo hoa năm 2023” để tìm mua pháo hoa nổ và làm quen, nhắn tin với một người sử dụng tài khoản Facebook có tên “Phúc V” liên hệ mua pháo hoa nổ loại dàn 49 ống thì tài khoản Facebook có tên “Phúc V” báo giá bán lẻ là 850.000 đồng/01 hộp; nếu lấy từ 20 hộp trở lên thì giá là 830.000 đồng/01 hộp. Sau đó, M1 gọi điện cho Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q thông báo lấy được pháo hoa nổ với giá 850.000 đồng/01 hộp, lấy từ 20 hộp trở lên thì giá là 830.000 đồng/01 hộp, nếu mua thì chuyển tiền trước cho M1, Q và Tuấn A đồng ý, mỗi người đặt mua 05 hộp pháo nổ loại dàn 49 ống.
Ngày 10/11/2023, Q chuyển số tiền 4.300.000đ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng) từ tài khoản ngân hàng M3 số 0966900135 vào tài khoản ngân hàng V1 số 0451000449626 của M1 (dư 150.000 đồng); Tuấn A sử dụng tài khoản ngân hàng L số [...] chuyển số tiền 4.200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 số 0451000449626 của M1 (dư 50.000 đồng). Sau đó, M1 sử dụng tài khoản V1 của mình chuyển số tiền 16.600.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M3, chủ tài khoản là PHAM THE TUYEN do tài khoản Facebook “Phúc Văn” cung cấp để đặt mua 20 hộp pháo nổ loại dàn 49 ống (M1 lấy thêm 10 hộp để được mua giá 830.000 đồng) và nhắn tin địa chỉ nhận hàng của Tuấn A cho tài khoản Facebook “P”. Do M1 đang đi làm tại tỉnh Bắc Giang nên M1 trao đổi với Tuấn A nhận toàn bộ số hàng (pháo hoa nổ) do M1 đã đặt và giữ giúp số pháo nổ M1 mua thêm, Tuấn A đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 19/11/2023, Hoàng Văn B (là nhân viên giao hàng của Công ty J) mang 02 thùng bìa cát tông bên trong mỗi thùng đựng 10 hộp pháo hoa nổ đến nhà giao cho Tuấn A (tại nhà của ông Nguyễn Xuân T1 sinh năm 1969 trú tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang - bố đẻ Tuấn A). Sau khi nhận được 20 hộp pháo thì Tuấn A gọi điện báo cho M1 biết, M1 nói với Tuấn A là trong 02 thùng có chứa 20 hộp pháo nổ, trong đó của Tuấn A 05 hộp loại 49 ống, của Q là 05 hộp loại 49 ống, còn 10 hộp là của M1. Sau đó, Tuấn A gọi điện cho Q thông báo đã nhận được pháo, do Q đang đi làm xa nên cũng nhờ Tuấn A cất giữ hộ, Tuấn A đồng ý và cất giấu 02 thùng pháo hoa nổ tại phòng thờ trên tầng 2 nhà của mình.
Ngày 22/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T nhận được đơn tố giác (đơn không ghi danh) của công dân xã T, huyện H, tố giác Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q và Trần Văn M, cùng trú tại thôn L, xã T, huyện H hành vi chung tiền mua pháo hoa nổ về bán, vào sáng ngày 19/11/2023, thấy Tuấn A nhận 02 thùng to, nghi là pháo nổ được cất giấu trên gác nhà Tuấn A.
Sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh, hồi 17 giờ 15 phút ngày 22/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn A tại thôn L, xã T. Kết quả khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tuấn A phát hiện tại vị trí sát giường ngủ tại phòng thờ tầng 2 nhà của Tuấn A có 02 thùng hàng bọc nilon màu đen, cuốn băng dính màu vàng. Tiến hành mở 02 thùng hàng trên bên trong có: Thùng 1 có 10 hộp pháo hoa loại dàn 49 ống, bên trên có hình pháo hoa và chữ nước ngoài, Thùng 2 có 10 hộp pháo hoa loại dàn 36 ống, bên trên có hình pháo hoa và chữ nước ngoài.
Tại bản kết luận giám định số 1501/KL-KTHS, ngày 25/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- + 10 (mười) khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (14,7x14,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,4cm, cao 10cm gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ); khối lượng 12,7 kg (mười hai phẩy bảy kilogam).
- + 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (16,5x16,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,3cm, cao 10cm gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ); khối lượng 14,75 kg (mười bốn phẩy bảy lăm kilogam).
Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSHY, ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Trần Văn M về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần Văn M, Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”, bị cáo Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (25/11/2023).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Hồng Q từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (14,7x14,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,4cm, cao 10cm; 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (16,5x16,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,3cm, cao 10cm (đã được chuyển đến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T xử lý theo quy định).
- + Trả lại cho bị cáo Trần Văn M: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng.
- + Truy thu sung Ngân sách nhà nước của bị cáo Trần Văn M số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn M, Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với các bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về việc xem xét hành vi của các bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn M, Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với các bị cáo. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản khám xét; Biên bản xác minh, Biên bản làm việc xác định nội dung lưu giữ trên điện thoại; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:
Ngày 19/11/2023, tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Trần Văn M đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Tuấn A sinh năm 1994 và Lương Hồng Q sinh năm 1983 cùng trú tại thôn L, xã T, huyện H người 05 hộp pháo hoa nổ (loại giàn 49 ống) có khối lượng 7,375kg được số tiền 8.500.000 đồng. Ngoài ra Trần Văn M còn có hành vi tàng trữ 10 hộp pháo hoa nổ (loại giàn 36 ống) có khối lượng 12,7kg nhằm mục đích bán. Tổng số pháo hoa nổ Trần Văn M đã bán và cất giấu để bán là 27,45kg (Hai mươi bảy phẩy bốn mươi lăm kilogam),
Ngày 19/11/2023, tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi tàng trữ nhằm mục đích sử dụng 05 hộp pháo hoa nổ (loại giàn 49 ống) có trọng lượng 7,375kg. Ngoài ra Nguyễn Tuấn A còn có hành vi giúp sức cho Trần Văn M tàng trữ 10 hộp pháo hoa nổ (loại giàn 36 ống) có trọng lượng 12,7kg, giúp sức cho Lương Hồng Q tàng trữ 05 hộp pháo hoa nổ (loại giàn 49 ống) có trọng lượng 7,375kg. Tổng khối lượng pháo hoa nổ Nguyễn Tuấn A tàng trữ trong vụ án là 27,45kg (Hai mươi bảy phẩy bốn mươi lăm kilogam).
Ngày 19/11/2023, tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Lương Hồng Q đã có hành vi tàng trữ nhằm mục đích sử dụng 05 hộp pháo hoa nổ (loại giàn 49 ống) có trọng lượng 7,375kg (Bẩy phẩy ba bẩy lăm kilogam).
Hành vi của bị cáo Trần Văn M đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước trong quản lý pháo nổ, mà còn xâm phạm trật tự công cộng, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội của địa phương, làm suy kiệt kinh tế gia đình, gây tâm lý bất bình trong nhân dân. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo ý thức được đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng với mức độ, tính chất phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.
HĐXX đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, vị trí của từng bị cáo trong vụ án như sau: Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự chuẩn bị, bàn bạc, câu kết từ trước. Tuy nhiên căn cứ vào diễn biến hành vi vụ án, bị cáo Tuấn A đã có hành vi giúp sức cho bị cáo M và bị cáo Q trong việc tàng trữ pháo nổ (cho để pháo tại nhà của Tuấn A).
Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 190 và khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn M trong ngày 19/11/2023 đã 2 lần bán pháo nổ (pháo hoa nổ) cho Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn M2 đã tác động mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T nộp số tiền tạm thu án phí hình sự sơ thẩm tại biên lại số 0000368 ngày 19/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử bà Phạm Thị T3 có nộp Đơn đề nghị, cam đoan bảo lãnh của bà và ông Trần Văn H kèm Quyết định xuất ngũ số 30/QĐ-XN ngày 10/07/2015 của bị cáo M nên bị cáo M được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Tuấn A có đơn xin chấp hành án tại địa phương được UBND xã T xác nhận nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lương Hồng Q phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Q nộp bản sao Quyết định số 1156/QĐ-BTL ngày 07/12/2017 về việc thực hiện chế độ trợ cấp 1 lần đối với dân công hoả tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg của Bộ, Bộ Q1 mang tên Lương Xuân H1 là bố đẻ của bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làm cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét lên mức án phù hợp đối với từng bị cáo.
Bị cáo Tuấn A là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Không tố giác tội phạm; bị cáo Q đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản. Tuy nhiên bị cáo Tuấn A đã được xoá án tích, bị cáo Q tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Xét thấy các bị cáo Tuấn A, Q đều có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể. Bên cạnh đó các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện H đề nghị áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.
Trong thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Nếu trong thời gian này, các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì các bị cáo phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015.
- Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về vật chứng:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị cáo 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (14,7x14,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,4cm, cao 10cm; 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (16,5x16,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,3cm, cao 10cm là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo Trần Văn M 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng đã qua sử dụng. Ngoài sử dụng vào việc liên hệ với bị cáo Tuấn A, bị cáo Q để bán pháo nổ, bị cáo còn sử dụng để liên lạc hàng ngày. Tại phiên toà bị cáo xin được trả lại, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải tịch thu nên trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính của bị cáo Trần Văn M từ việc buôn bán pháo hoa nổ cho bị cáo Nguyễn Tuấn A (số tiền 50.000đ) và Lương Hồng Q (số tiền 150.000đ). Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu nộp Ngân sách nhà nước.
- Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Văn M, Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Về các vấn đề khác:
Quá trình điều tra xác định hãng vận chuyển hàng J&T Experss và nhân viên giao hàng Hoàng Văn B trú tại thôn A M, xã M, huyện H là người vận chuyển số pháo hoa nổ đến cho Nguyễn Tuấn A. Tuy nhiên đơn vị giao hàng và người giao hàng không biết hàng hóa vận chuyển là pháo hoa nổ nên không xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Tuấn A có hành vi giúp sức cho Trần Văn M tàng trữ 10 hộp pháo hoa nổ (loại 36 ống) có trọng lượng 12,7kg nhưng không biết M nhằm mục đích bán. Do đó không có căn cứ để khởi tố Nguyễn Tuấn A về tội Mua bán hàng cấm với vai trò đồng phạm giúp sức.
Đối với Nguyễn Xuân T1 và Hoàng Thị T2 (bố mẹ đẻ Nguyễn Tuấn A) việc Tuấn A cất giấu số pháo hoa nổ tại nhà ông T1, bà T4 không biết nên xem xét xử lý.
Đối với các đối tượng đã bán pháo hoa nổ cho Trần Văn M, cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra xác minh theo quy định nhưng không xác định được danh tính nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Lương Hồng Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (25/11/2023).
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án (23/4/2024).
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Hồng Q 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án (23/4/2024).
Giao các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q cho chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (14,7x14,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,4cm, cao 10cm; 10 khối hộp, kích thước mỗi khối hộp là (16,5x16,5x10)cm, bên trong mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ được liên kết với nhau, mỗi vật hình trụ có đường kính 2,3cm, cao 10cm (Tình trạng các vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T).
- - Trả lại cho bị cáo Trần Văn M: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H3 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
- - Truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Trần Văn M số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:
- - Bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000368 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo M đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm.
- - Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lương Hồng Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nông Thị Hương – Mạc Ngọc Day |
Hoàng Thị Minh Ngọc |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND huyện H;
- - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang;
- - Công an huyện H;
- - Chi cục THADS huyện H;
- - Bộ chỉ huy QS tỉnh Tuyên Quang;
- - UBND xã T, huyện H;
- - Các bị cáo;
- - Sở Tư pháp TQ;
- - Lưu HSVA, HSTHAHS.
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm (pháo nổ)
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm (Pháo nổ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Mạnh phạm tội buôn bán hàng cấm
