TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày: 22/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Vũ Hải Dương.
Hội thẩm nhân dân: Ông: Lê Đắc Tỵ; Bà: Nguyễn Thị Khánh.
Thư ký phiên tòa: Bà: Đỗ Thị Thanh Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông: Đàm Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Bị cáo:
1.1. Họ và tên: Quách Trung K, sinh ngày 01/09/1981. Tại: L, Hòa Bình. Nơi cư trú: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Văn C, sinh năm 1960; con bà: Bùi Thị V, sinh năm 1958; Vợ, con: chưa có.
Tiền án; Tiền sự: không. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến ngày 30/01/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
1.2. Họ và tên: Vũ Văn S, sinh ngày 15/7/1983. Tại: N, Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn H, sinh năm 1959; con bà: Đinh Thị N, sinh năm 1959; Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1986; con: 04 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án; Tiền sự: không. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến ngày 30/01/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
1.3. Họ và tên: Bùi Thị D, sinh ngày 01/01/1973. Tại: L, Hòa Bình. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn B (Đã chết); con bà: Bùi Thị M1 (Đã chết); Chồng: Quách Văn M2, sinh năm 1971; con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1995.
Tiền án; Tiền sự: không. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến ngày 30/01/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
1.4. Họ và tên: Quách Văn T, sinh ngày 18/10/1992. Tại: L, Hòa Bình. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Văn M2, sinh năm 1971; con bà: Bùi Thị D, sinh năm 1973; Vợ: Bùi Thị H1, sinh năm 1995; con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án; Tiền sự: không. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến ngày 30/01/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
1.5. Họ và tên: Bùi Khắc K1, sinh ngày 01/03/1964. Tại: N, Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Khắc C1 (Đã chết); con bà: Bùi Thị B1 (Đã chết); Vợ: Bùi Thị V1, sinh năm 1965; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1990.
Tiền án; Tiền sự: không. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến ngày 30/01/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978.
- Trú tại: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt).
- - Chị Quách Thị H2, sinh năm 1985.
- Trú tại: thôn M, xã T, huyện L, Hòa Bình. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người chứng kiến:
- - Anh Bùi Như T1, sinh năm 1990.
- Trú tại: thôn M, xã T, huyện L, Hòa Bình. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 00 ngày 30 tháng 12 năm 2023, do có mối quan hệ quen biết từ trước, Vũ Văn S đến xã T, huyện L tìm Quách Thị H2 để cùng đi mua cây cảnh. Khi gặp H2, H2 đưa S vào nhà Quách Trung K tại: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình là chỗ H2 quen biết chơi và ăn cơm trưa. Sau khi ăn cơm xong, K rủ S và H2 đánh bạc dưới hình thức chơi liêng được thua bằng tiền, tiền đặt cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, H2 và S đồng ý. Cả ba đi vào buồng ngủ nhà K, trong phòng ngủ đã có sẵn 01 bộ bài và đệm. Cả ba chơi dưới hình thức đánh liêng được khoảng 30 phút thì có chị L đến tham gia đánh bạc cùng K, S, H2 chơi đến 12 giờ 30 phút bị cáo D và T đến chơi, lúc ngày do thua hết số tiền 40.000 đồng mang theo nên chị L đứng dậy ra về. T ngồi vào chơi thay chỗ của chị L, còn bị cáo D đi sang nhà hàng xóm. Do có việc gia đình và cũng đã thua hết số tiền mang theo là 525.000 đồng nên chị H2 đã đứng dậy ra về, lúc này có Bùi Khắc K1 đến và cùng ngồi đánh bạc với K, S, T (K1 được bị cáo D gọi điện đến để tham gia đánh bạc). T sau khi đánh bạc thua hết tiền nên gọi điện thoại cho bị cáo D quay về nhà K và cùng ngồi đánh bạc. Các bị cáo K, S, T, D, K1 đánh bạc với nhau đến 13 giờ 30 phút thì bị Công an xã T phối hợp với Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện L phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu 3.308.000 (Ba triệu ba trăm linh tám nghìn) đồng, đồng thời K1 tự nguyên giao nộp số tiền mang theo để đánh bạc là: 4.175.000 (Bốn triệu một trăm bẩy mươi lăm nghìn) đồng. Tổng số tiền bị thu giữ để đánh bạc là 7.483.000 (Bảy triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn) đồng.
* Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:
- - Tiền 7.483.000 (Bảy triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn) đồng,
- - 01 (một) bộ bài tây 51 quân cũ đã qua sử dụng,
- - 01 đệm mầu xanh, vàng, nâu cũ đã qua sử dụng,
- - 01 điện thoại di động nhân hiệu Redmi, Model: M2006C3LG, màu đen, điện thoại cũ đã qua dử dụng thu giữ của Bùi Thị D,
- - 01 điện thoại di động nhân hiệu Realme C21-Y, nắp lưng màu xanh, có ốp nhựa mầu đen, điện thoại cũ đã qua dử dụng thu giữ của Bùi Khắc K1,
- - 01 điện thoại di động nhân hiệu OPPO A54, nắp lưng màu xanh, kính màn hình và kinh camera bị nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua dử dụng thu giữ của Quách Văn T.
- - 01 ví giả da màu nâu có chữ BOSS, các cạnh bị sờn rách, ví cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Khắc K1.
Đối với Nguyễn Thị L và Quách Thị H2 cùng tham gia đánh bạc với Quách Trung K, Vũ Văn S và Quách Văn T. Nguyễn Thị L và Quách Thị H2 do thua hết tiền nên đã ra về trước khi Bùi Khắc K1 đến tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị L và Quách Thị H2 không đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị L và Quách Thị H2 theo điểm a, Khoản 2, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống bạo lực gia đình.
Cáo trạng số: 15/CT-VKSLT ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện L truy tố các bị cáo Quách Trung K, Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T, Bùi Khắc K1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (BLHS).
* Tại phiên tòa:
- Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và mong được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
+ Tuyên bố các bị cáo Quách Trung K, Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T, Bùi Khắc K1 về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 65 BLHS xử phạt:
+ Quách Trung K; Bùi Khắc K1 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 36 BLHS xử phạt:
+ Vũ Văn S; Bùi Thị D; Quách Văn T mỗi bị cáo: từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
+ Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
+ Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS):
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 7.483.000 (Bảy triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn) đồng là tiền do bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (L, H2) dùng để thực hiện hành vi đánh bạc.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 03 điện thoại di động thu giữ của Bùi Thị D, Bùi Khắc K1, Quách Văn T là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc trong quá trình phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây; 01 đệm thu giữ của Quách Trung K; 01 ví giả da thu giữ của Bùi Khắc K1 do là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
+ Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT - Công an huyện L, Điều tra viên, VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ khẳng định:
Các bị cáo Quách Trung K, Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T, Bùi Khắc K1 đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng” với số tiền đánh bạc là 7.483.000 (Bảy triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn) đồng và bị bắt quả tang vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 30/12/2023 tại nhà bị cáo Quách Trung K tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS. VKSND huyện Lạc Thủy truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi đánh bạc và bị bắt quả tang ngày 30/12/2023 các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo K, D, T, K1 là người dân tộc sinh sống ở vùng sâu, xa của huyện; học vấn thấp đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
[4] Xét về tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Quách Trung K là chủ nhà nơi xảy ra sự việc đánh bạc, là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội, rủ rê bị cáo S, chị H2 cùng tham gia đánh bạc. Bản thân bị cáo sử dụng số tiền: 1.480.000 đồng để tham gia đánh bạc.
Các bị cáo đồng phạm khác tham gia đánh bạc với số tiền như sau: Vũ Văn S là: 913.000 đồng; Bùi Thị D là: 200.000 đồng; Quách Văn T là: 150.000 đồng; Bùi Khắc K1 là: 4.175.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng do ham vui, hám lợi nên vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Xét thấy cần xử lý các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo K, S, K1, D, T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn, các bị cáo có nơi cư trú ổn định. HĐXX xét thấy chưa cần các ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 BLHS, các bị cáo có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[7] Về các nội dung khác:
Đối với hành vi của Nguyễn Thị L và Quách Thị H2 quá trình điều tra xét thấy các đối tượng đã tự ý chấm dứt hành vi vi phạm. Quá trình đánh bạc L, H2 không rủ rê thêm ai khác cùng tham gia đánh bạc. Số tiền khi tham gia đánh bạc không đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo Quách Trung K, Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T, Bùi Khắc K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026 về án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại Điều 331 BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố: Các bị cáo Quách Trung K, Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T, Bùi Khắc K1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 65 BLHS xử phạt:
+ Quách Trung Kiên 08 (T2) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Bùi Khắc K1 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 36 BLHS xử phạt:
+ Vũ Văn S 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ.
+ Bùi Thị D: 08 (T2) tháng cải tạo không giam giữ.
+ Quách Văn T: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Vũ Văn S tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam 32 (Ba mươi hai) ngày bằng 96 (Chín mươi sáu) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo Bùi Thị D, Quách Văn T tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam 32 (Ba mươi hai) ngày bằng 96 (Chín mươi sáu) ngày cải tạo không giam giữ.
- Giao bị cáo Quách Trung K, Bùi Khắc K1, Bùi Thị D, Quách Văn T cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.
- Không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với các bị cáo Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T.
- Giao bị cáo Vũ Văn S cho UBND xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình quản lý giáo dục trong thời gian thi hành án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của bộ luật này.
2. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.483.000 (Bảy triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn) đồng.
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của Bùi Thị D, 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21-Y của Bùi Khắc K1, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 của Quách Văn T.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 51 quân; 01 đệm; 01 ví giả da đã qua sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 và Ủy nhiệm chi ngày 29/3/2024 giữa cơ quan điều tra Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Quách Trung K, Vũ Văn S, Bùi Thị D, Quách Văn T, Bùi Khắc K1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (ĐÃ KÝ) Vũ Hải Dương |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K cùng đồng phạm Đánh Bạc
