Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 22 - 04 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tua.

Bà Trần Thị Bé Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Lực - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 15 và 22 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Đoàn Văn G, sinh năm 1970, tại huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn B và bà Hồ Thị D; có vợ (Trịnh Thị L) và 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: ngày 28/02/2022, bị Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành nộp phạt; bị bắt tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Văn H; nơi cư trú: Ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị B1; nơi cư trú: Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Bà Trần Thị B1 là người làm chứng (vắng mặt); bà Trịnh Thị Út T là người làm chứng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 05/5/2022, ông Lê Văn H, ngồi uống rượu cùng với Phạm Văn P, Lê Văn T1, Trần Văn T2 và Đoàn Văn G tại khu vực gần đình thần Nguyễn Trung T3 thuộc ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì G ra về trước, những người còn lại tiếp tục ngồi uống rượu. Đến khoảng 15 giờ, ông H ra về thì phát hiện bị mất 01 chiếc xe đạp, hiệu Maxtin, màu sơn bạc. Ngày 06/5/2022 khi nghe tin Đoàn Văn G bán chiếc xe đạp trên cho một người đàn ông thu mua phế liệu với giá 100.000 đồng và được bà Trần Thị B1 chuộc lại, ông H trình báo sự việc đến Công an xã V.

Qua xác minh ban đầu, tại Công an xã V Đoàn Văn G đã thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc xe đạp hiệu Maxtin của ông Lê Văn H. Tuy nhiên trong quá trình điều tra lại không thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc xe đạp nói trên. Người làm chứng Trần Thị B2 trình bày: vào khoảng 14 giờ ngày 05/5/2022, bà B1 đi qua nhà của chị Trần Thị Út T4, thuộc ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang thì bà B1 và chị T4 thấy ông G kêu người đàn ông lạ mặt thu mua phế liệu lại và kêu bán 01 chiếc xe đạp màu trắng bạc, có gắn giỏ ở phía trước. Lúc này, chị T4 nói với bà B1: “Chị có tiền thì chuộc lại cho người ta đi, nếu ai mất thì trả lại cho người ta”, bà B1 đi xuống mé song đưa cho người thu mua phế liệu số tiền 100.000 đồng để chuộc lại chiếc xe đạp ông G vừa bán. Sau đó, bà B1 đi qua nhà chị T4 chơi thì gặp ông H, khi nghe ông H nói bị mất xe đạp thì bà B1 dẫn ông H về nhà của mình để nhận dạng thì ông H xác nhận đúng là chiếc xe đạp của ông bị mất. Người làm chứng chị Trịnh Thị Út T trình bày: vào khoảng 14 giờ, ngày 05/5/2022 bà B1 đi qua nhà của chị T, khi cả hai đang nói chuyện thì thấy ông G đi xe đạp từ hướng cầu chùa K đến trước cửa nhà chị T. Lúc này, có một người đàn ông lạ mặt thu mua phế liệu tới thì chị T thấy ông G bán cho người này 01 chiếc xe đạp màu trắng nên nói với bà B1: “Chị chuộc lại đi, ai có mất thì trả lại cho người ta”. Sau đó, bà B1 đi xuống mé song đưa cho người thu mua phế liệu số tiền 100.000 đồng để chuộc lại chiếc xe đạp ông G vừa bán.

Tang vật thu giữ: 01 chiếc xe đạp, hiệu Maxtin, màu sơn bạc đã qua sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐ.ĐGTS ngày 22/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 chiếc xe đạp hiệu Maxtin, màu sơn bạc có giá trị là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

* Xử lý vật chứng: Công an xã V trả lại tài sản cho ông Lê Văn H 01 chiếc xe đạp hiệu Maxtin, màu sơn bạc đã qua sử dụng.

* Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Lê Văn H đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B1 có yêu cầu Đoàn Văn G trả lại số tiền chuộc xe là 100.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKS- HVT ngày 09/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Đoàn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên toà:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, tranh luận giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn G từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B1 và buộc ông G hoàn trả lại cho bà B2 số tiền chuộc xe là 100.000 đồng.

Về án phí hình sự: buộc các bị cáo chịu theo quy định pháp luật.

- Phát biểu tự bào chữa và lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo G không thừa nhận có thực hiện hành vi trộm xe đạp của ông Lê Văn H.

- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nên không thể hiện ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại ông Lê Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đồng thời là người làm chứng) bà Trần Thị B1, người làm chứng chị Trịnh Thị Út T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra những người này đã có lời khai, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét hành vi và tội danh của bị cáo bị truy tố: Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn G không nhận tội, không thống nhất Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, căn cứ vào vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản đối chất là phù hợp nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ này, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 05/5/2022, tại ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang bị cáo Đoàn Văn G đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp hiệu Maxtin, màu sơn bạc có giá trị theo định giá là 300.000 đồng của ông Lê Văn H. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới định lượng truy tố nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành xong quyết định, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 04/CT-VKS-HVT ngày 09/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo còn quanh co, chối tội nhằm trốn tránh trách nhiệm, không thành khẩn khai báo, không biết ăn năn hối cãi nên cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

[5] Xét về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu.

[6] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức để răn đe, giáo dục và phòng ngừa loại tội phạm này tại địa phương.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe đạp hiệu Maxtin, màu sơn bạc đã qua sử dụng là tài sản của bị hại. Công an xã V đã trả lại tài sản cho người bị hại là đúng quy định pháp luật nên Tòa không xét lại.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B1 yêu cầu Đoàn Văn G trả cho bà số tiền chuộc xe là 100.000 đồng là có căn chấp nhận.

[11] Về án phí: Buộc bị cáo G chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về phát biểu luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: xét đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn G 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Đoàn Văn G hoàn trả lại cho bà Trần Thị B1 số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

Buộc bị cáo Đoàn Văn G chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh HG;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an H. Vị Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an H. Vị Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Vị Thủy;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hoàng Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn Giảng không nhận tội, không thống nhất Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, căn cứ vào vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản đối chất là phù hợp nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ này, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 05/5/2022, tại ấp 6, xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang bị cáo Đoàn Văn Giảng đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp hiệu Maxtin, màu sơn bạc có giá trị theo định giá là 300.000 đồng của ông Lê Văn Hoàng. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới định lượng truy tố nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành xong quyết định, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger