Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày: 21-6-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Ngô Văn Nghị

Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Đình T – Sinh năm: 1982

Địa chỉ: B Y, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Sĩ L – Sinh năm: 1983

Bà Huỳnh Thị H – Sinh năm: 1987

Đồng trú địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn T1 – Sinh năm: 1942

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có đơn xin xử vắng mặt).

2. Ông Hồ Văn T2 – Sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Phạm Đình T trình bày:

Nguyên hộ gia đình cha ông là ông Phạm Văn T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD934519 ngày 30/3/2022, tại thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, diện tích là 1928m², hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở 150m², đất trồng cây hàng năm khác đến tháng 3/2065, nguồn gốc sử dụng công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất 150m², Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất 1778m². Ngoài ra cơ quan có thẩm quyền ghi chú thửa đất có 168,5m² đất nằm trong chỉ giới quy hoạch hành lang an toàn giao thông, giấy chứng nhận này được tách cấp từ giấy chứng nhận do UBND huyện T cấp ngày 08/02/2007, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H01575, thửa đất được tách từ thửa đất gốc số 274, tờ bản đồ số 25 đã được tách thành 02 thửa đất.

Năm 2013 cha ông (Phạm Văn T1) có cho ông Hồ Sĩ L cùng thôn mượn đất với diện tích là 340,7m² để làm chuồng trại chăn nuôi heo và ông L có đưa cho cha ông số tiền 20.000.000 đồng tiền thuê đất, khi cho thuê hai bên không có viết giấy tờ và có nói khi nào gia đình ông có nhu cầu thì sẽ lấy lại đất, khi giao trả đất ông L phải tháo dỡ chuồng trại nguyên trạng ban đầu, ông L đồng ý.

Ngày 25/02/2022 cha ông đã tặng cho ông toàn bộ diện tích đất 1928m² (trong đó có 340,7m² đất đã cho ông L mượn) ở thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo giấy chứng nhận QSD đất. Khi làm thủ tục gia đình ông có thương lượng lấy lại diện tích đất ông L mượn thì ông L yêu cầu gia đình ông viết giấy chuyển nhượng đất diện tích 340,7m² nhưng gia đình ông không đồng ý.

Ngày 19/7/2022 gia đình ông đã làm thủ tục tặng cho ông toàn bộ diện tích đất nêu trên theo giấy chứng nhận QSD đất được Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện T xác nhận ông được sử dụng toàn bộ diện tích đất 1928m². Sau khi được sử dụng cấp giấy chứng nhận QSD đất ông thương lượng nhiều lần nhưng ông L không trả lại diện tích đất mượn 340,7m². Tại buổi hòa giải ở UBND xã B ngày 23/8/2022 ông L nêu ý kiến đồng ý trả lại đất nhưng chỉ trả 334,7m² và yêu cầu gia đình ông chừa lại 6m² có công trình phụ và 1 góc nhà 0,42m² của gia đình ông L, nhưng ông không đồng ý. Nay ông yêu cầu ông L có nghĩa vụ trả lại 340,7m² đất hiện đang sử dụng và tháo dỡ chuồng, trại trả lại hiện trạng đất ban đầu, vị trí giới cận đất tranh chấp có hướng Đông giáp thửa đất 850, hướng Tây giáp thửa đất 985, hướng Nam giáp thửa đất 393. Ông không đồng ý nhượng lại 6m² cho ông L. Tại phiên tòa hôm nay ông yêu cầu ông L, bà H phải trả cho ông diện tích đất 350m² theo như bản vẽ ngày 25/5/2023 của Công ty TNHH T7.

Tại các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H trình bày:

Vào năm 2013 cha ông cho vợ chồng ông xây dựng nhà ở tại vị trí nhà hiện nay ở tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định có địa chính xã B cắm móc, chỉ ranh giới đất cho ông xây dựng nhà ở, do diện tích đất ở nhà ông nhỏ hẹp nên vợ chồng ông có đặt vấn đề mua đất của hộ ông Phạm Văn T1 liền kề phía sau đất ở của ông, hai bên thống nhất ông T1 nhận 20.000.000 đồng của ông và chỉ ranh giới phần đất

chuyển nhượng cho ông nên ông tiến hành xây dựng tường rào, chuồng heo và sử dụng từ đó đến nay. Nay ông T yêu cầu vợ chồng ông trả lại 340,7m² đất hiện đang sử dụng và tháo dỡ chuồng, trại trả lại hiện trạng đất ban đầu thì vợ chồng ông đồng ý trả diện tích 334,7m², ông xin ông T cho ông tồn tại phần diện tích nhà ở cơi nới 6m² đã xây dựng nhà bếp, vì nếu tháo dỡ diện tích này thì ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà. Còn lại phần chuồng, trại ông đồng ý tháo dỡ trả lại đất và không yêu cầu đòi lại 20.000.000 đồng mà trước đây ông T1 cha ông T đã nhận của ông. Nếu ông T không đồng ý cho vợ chồng ông được sử dụng 6m² đã cơi nới thì vợ chồng ông không đồng ý tháo dỡ trả lại diện tích đất 340,7m² vì diện tích đất trên ông T1 đã bán cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất mà ông T và vợ chồng ông L, bà H đang tranh chấp là của cha mẹ ông Phạm T3 (chết), Võ Thị Đ (chết) để lại. Thửa đất cha mẹ ông để lại đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 985, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 1928m² (trong đó đất ở 150m², đất trồng cây hàng năm khác 1778m²) tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Thời điểm Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất hộ ông gồm có: Ông Phạm Văn T1, vợ Trần Thị N và các con là Phạm Đình T4, sinh năm 1974; Phạm Thị Kim L1, sinh năm 1976; Phạm Thị Truyền T5, sinh năm 1979; Phạm Đình T, sinh năm 1982; Phạm Thị Thanh T6, sinh năm 1985. Sau đó được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Phạm Văn T1 số DD 934519 ngày 30/3/2022 tại thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 1928m² (trong đó đất ở 150m², đất trồng cây hàng năm khác 1778m²) tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Năm 2022, ông đã tặng cho anh T con trai ông phần diện tích đất nằm phía sau lưng nhà ông L nhưng trước đó ông không nhớ thời gian khoảng 11 – 12 năm, ông L có gặp ông đặt vấn đề mua phần diện tích đất đang tranh chấp, nhưng ông không đồng ý bán vì đất của ông bà, ông chỉ cho ông L mượn để sử dụng chăn nuôi heo, gà... . Còn số tiền 20.000.000 đồng ông nhận của ông L là tiền thuê đất của ông chứ không phải tiền mua bán đất. Khi ông cho ông L mượn đất không có giấy tờ gì cả chỉ nói miệng. Vì khi đó ông L nuôi heo, gà, sợ phá vườn do con trai ông trồng sát bên nên ông mới để ông L xây dựng hàng rào. Ông không nhớ diện tích cho mượn là bao nhiêu. Trước khi cho mượn ông đã nói ông L khi nào cần thì ông lấy lại đất, nay thửa đất trên ông đã tặng cho con trai anh T, việc anh T kiện đòi lại đất thì ông không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn T2 trình bày:

Thửa đất của ông đang sử dụng là thửa 975, tờ bản đồ số 25, có diện tích 360m² tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định liền kề với thửa đất của ông là thửa số 273, tờ bản đồ số 25, có diện tích 168m² của ông Hồ Sĩ L. Theo sơ đồ bản vẽ ngày 25/5/2023 thì diện tích đất của ông có lấn chiếm của ông L diện tích 6,9m² và diện tích đất của ông L có lấn chiếm của ông diện tích 3,8m². Thửa đất của ông và ông L hai bên sử dụng ổn định từ trước đến nay, không tranh chấp gì. Việc diện

tích đất các bên lấn nhau giữa gia đình ông và gia đình ông L sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông không có yêu cầu gì.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Đình T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ vào các Điều 164, 166, 168, 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 170 của Luật Đất đai năm 2013. Buộc vợ chồng ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải trả lại diện tích đất 350m² và tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định được Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện T chứng nhận đăng ký biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002354.TA.001 ngày 19/7/2022 cho ông Phạm Đình T (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Về chi phí định giá tài sản và án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T1 và ông Hồ Văn T2 có đơn xin xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về yêu cầu tranh chấp đất giữa các đương sự:

Ông Phạm Đình T khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải tháo dỡ các công trình xây dựng, chuồng trại lấn chiếm trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, đối với diện tích đất vườn 350m² mà ông L đang sử dụng là vào năm 2013 gia đình ông (cha ông Phạm Văn T1) cho ông Hồ Sĩ L mượn đất để làm chuồng trại chăn nuôi heo, hai bên không có viết giấy tờ, không nói thời hạn trả nhưng có thỏa thuận khi nào cần thì gia đình ông lấy lại đất, ông L có đưa cho ông T1 số tiền 20.000.000 đồng là tiền thuê đất. Nay diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của ông vì ông đã được cha mẹ và các anh chị em tặng cho quyền sử dụng đất cho ông nên ông yêu cầu ông L, bà H phải trả cho ông diện tích đất 350m² theo như bản vẽ ngày 25/5/2023 của Công ty TNHH T7.

Ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H cho rằng diện tích đất 350m² vườn hiện đang tranh chấp là do ông bà mua của ông Phạm Văn T1 vào năm 2013, ông bà có đưa cho ông T1 số tiền 20.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ chứng minh. Nay ông T yêu cầu trả diện tích 350m² đất vườn thì ông bà đồng ý tháo dỡ toàn bộ tài sản đã xây dựng và chặt cây trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định để trả lại đất cho ông Phạm Đình T nhưng vợ chồng ông bà yêu cầu ông T cho tồn tại sử dụng diện tích nhà vệ sinh cấp 4 có diện tích 7,3m² mà ông bà đã xây dựng vì nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của cả ngôi nhà nên diện tích đất còn lại phải trả cho ông T là 342,7m².

[3] Về nguồn gốc đất các bên đang tranh chấp:

Thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, diện tích 1928m² có nguồn gốc được tách ra từ thửa đất 404 B tờ bản đồ số 7 (cũ) có diện tích 3560m², gồm 300m² T, 3260m² V (mới) là thửa số 274, tờ bản đồ số 25 có diện tích 3770m², gồm 300m² ONT, 3470m² đất trồng cây hàng năm khác được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/02/2007, số vào sổ cấp GCN: H01575 cho hộ ông Phạm Văn T1 theo sổ địa chính cũ năm 1997, sổ địa chính mới năm 2007.

Ngày 30/3/2022 hộ ông Phạm Văn T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02354 tại thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, diện tích là 1928m² (trong đó đất ở 150m², đất trồng cây hàng năm khác 1778m²). Thửa đất được tách từ thửa đất gốc số 274, tờ bản đồ số 25 đã được tách thành 02 thửa đất là thửa 984 và 985 tờ bản đồ số 25.

Ngày 11/7/2022 ông Phạm Văn T1 và các thành viên có tên trong hộ ông Phạm Văn T1 làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Phạm Đình T đối với thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định có diện tích là 1928m² (trong đó đất ở 150m², đất trồng cây hàng năm khác 1778m²) cho ông Phạm Đình T được UBND xã B chứng thực. Ngày 19/7/2022 ông Phạm Đình T được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện T chứng nhận quyền sử dụng đất theo đăng ký biến động tặng cho cho ông Phạm Đình T theo hồ sơ số 002354.TA.001 nên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 có diện tích đất 1928m² tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Đình T.

[4] Về diện tích đất đang tranh chấp và tài sản có trên đất:

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đang tranh chấp vào ngày 25/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, đo đạc thực tế phần đất đang tranh chấp hiện ông L, bà H đang sử dụng phía sau của thửa đất số 273, tờ bản đồ số 25 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định có tổng diện tích đất tranh chấp: 350m²; Diện tích nhà cấp 4: S1= 7,3m²; Diện tích chuồng heo: S2 + S3 = 35.7m² + 21.2 = 56.9m²; Diện tích đất vườn: S4 = 285,8m².

Trên đất có các loại cây ăn quả, cây lâu năm sau và các công trình do ông L, bà H trồng và xây dựng gồm:

  • - 01 cây mít có quả đường kính lớn hơn hoặc bằng 15cm đến < 30cm; 01 cây mít có quả thu hoạch tốt đường kính lớn hơn hoặc bằng 30cm; 01 cây cóc có quả; 01 cây quýt; 04 cây vú sữa chưa có quả; 01 cây ổi; 07 cây xoan; 01 cây huỳnh đàn.
  • - 01 chuồng heo mã hiệu C5 xây dựng năm 2014, diện tích 35,7m²; 01 chuồng heo mã hiệu C5 xây dựng năm 2020, diện tích 21,2m².
  • - 01 hệ thống hầm bioga composite mã hiệu B7 xây dựng năm 2014.
  • - Tường rào xây gạch (mã hiệu TR1) + Lưới B40 xây dựng năm 2014; Tường rào xây gạch (mã hiệu TR2) + Lưới B40 xây dựng năm 2014.
  • - Nhà vệ sinh (mã hiệu N4) xây dựng năm 2014, kích thước 7,3m².

Tại phiên tòa hôm nay hai bên đều thống nhất theo sơ đồ bản vẽ và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, không yêu cầu đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

[5] Xét yêu cầu tranh chấp của các đương sự, HĐXX thấy rằng: Diện tích đất tranh chấp 350m² là đất vườn, trong đó ông L, bà H đã xây dựng nhà cấp 4: Diện tích S1= 7,3m²; Diện tích chuồng heo: S2 + S3 = 35.7m² + 21.2 = 56.9m²; Diện tích đất vườn: S4 = 285,8m² nằm trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định là thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Đình T đã được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện T chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Đình T ngày 19/7/2022. Nên căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai năm 2013 quy định “... Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình ...”; Điều 170 Luật đất đai năm 2013 quy định “sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất...”. Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án,...buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản...”. Do đó, ông Phạm Đình T yêu cầu ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải trả lại diện tích 350 m² đất trồng cây hàng năm khác tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định cho ông được sử dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình T.

Tại phiên tòa ông T yêu cầu ông L, bà H phải tháo dỡ toàn bộ các công trình trả lại nguyên trạng phần đất ban đầu, không đồng ý nhận các tài sản trên đất. Ông L, bà H tự nguyện đồng ý tháo dỡ các công trình, chặt phá các cây trồng, không yêu cầu ông T bồi thường giá trị chỉ xin ông T cho ông bà được tồn tại sử dụng diện tích nhà vệ sinh cấp 4 có diện tích 7,3m² mà ông bà đã xây dựng vì nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của cả ngôi nhà. Yêu cầu này của ông L, bà H không được nguyên đơn ông T chấp nhận và không đảm bảo điều kiện tách thửa vì đất tranh chấp là đất vườn. Vì vậy hội đồng xét xử buộc ông L, bà H phải tháo dỡ nhà vệ sinh (mã hiệu N4) xây dựng năm 2014, kích thước 7,3m² nằm trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 để trả lại đất cho ông T được sử dụng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông L, bà H đồng ý tháo dỡ các công trình, chặt phá các cây trồng nằm trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có sơ đồ bản vẽ của Công ty TNHH T7 kèm theo) là phù hợp với quy định pháp luật.

[6] Đối với yêu cầu của bị đơn ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H về việc ông Phạm Văn T1 có nhận 20.000.000 đồng của ông bà được tách ra để giải quyết bằng vụ án khác. Khi ông L, bà H có yêu cầu khởi kiện ông Phạm Văn T1 về đòi lại tài sản.

[7] Đối với phần đất lấn chiếm giữa ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H và ông Hồ Văn T2, hai bên không yêu cầu nên không xem xét.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Phạm Đình T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007580 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

[9] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản số tiền 8.000.000 đồng. Ông L, bà H phải chịu 8.000.000 đồng, ông T đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng, ông L đã nộp tạm ứng 3.000.000 đồng nên ông L, bà H phải trả lại cho ông T 5.000.000 đồng.

[10] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 164, 166, 168, 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 166, 170 của Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải trả cho ông Phạm Đình T diện tích 350m² đất trồng cây hàng năm khác tại thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1 cấp cho ông Phạm Đình T ngày 19/7/2022 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  2. Buộc ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải tháo dỡ nhà vệ sinh (mã hiệu N4) xây dựng năm 2014, kích thước 7,3m² nằm trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định để trả lại đất cho ông Phạm Đình T được sử dụng (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  3. Ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H tự tháo dỡ các công trình nằm trên thửa đất số 985, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, gồm: 01 chuồng heo mã hiệu C5 xây dựng năm 2014, diện tích 35,7m²; 01 chuồng heo mã hiệu C5 xây dựng năm 2020, diện tích 21,2m²; 01 hệ thống hầm bioga composite mã mã hiệu B7 xây dựng năm 2014; Tường rào xây gạch (mã hiệu TR1) + Lưới B40 xây dựng năm 2014. Tường cao 0,6m, dài 65,7m. Lưới B40 cao 1,2m, dài 65,7m;
  4. Tường rào xây gạch (mã hiệu TR2) + Lưới B40 xây dựng năm 2014. Tường cao 0,2m, dài 18,2m. Lưới B40 cao 01m, dài 18,2m để trả lại đất cho ông Phạm Đình T được sử dụng (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  5. Bác yêu cầu của ông Hồ Sĩ L và bà Huỳnh Thị H xin được sử dụng nhà vệ sinh có diện tích 7,3m² vì không được nguyên đơn ông Phạm Đình T chấp nhận.
  6. Về án phí: Ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Đình T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007580 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
  7. Về chi phí định giá và xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Hồ Sĩ L, bà Huỳnh Thị H phải chịu 8.000.000 đồng, ông T đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng, ông L đã nộp tạm ứng 3.000.000 đồng nên ông L, bà H phải trả lại cho ông T 5.000.000 đồng.
  8. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Thiện đòi đất với ông Lai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger