Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ ĐỒN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 15/2024/HS - ST

Ngày 31/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Viết Tác
  2. Ông Nông Văn Điền

- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Hoàn – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST- HS ngày 03/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST- HS ngày 17/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng M (tên gọi khác: Không); sinh ngày 07 tháng 9 năm 1974; nơi cư trú: Tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vũ T (đã chết) và con bà Hoàng Thị Thúy H; vợ: Đàm Thị H (đã ly hôn); con: 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/6/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 24/HSST, ngày 28/3/2024 bị Công an huyện Chợ Đồn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Văn T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 26 tháng 4 năm 1984; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V (đã chết); và con bà Ma Thị N; vợ: Hoàng Thị Đ; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 24/01/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, Công an xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đang làm nhiệm vụ tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bắt quả tang Hoàng Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nilon bên trong chứa 08 gói nhỏ gói bằng giấy chứa cục và bột màu trắng nghi là ma túy do Hoàng Văn T tự nguyện xuất trình; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng; 02 mảnh giấy nhỏ một mặt màu trắng, 01 mặt màu bạc. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng trong 08 gói nhỏ trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Hồi 08 giờ 40 phút ngày 19/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn tiến hành khám xét nhà ở và công trình phụ cận của Hoàng Văn T tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình khám xét thu giữ được 01 gói nilon trong suốt bên ngoài được buộc bằng dây màu xanh, bên trong chứa 20 gói nhỏ gói bằng giấy có hai mặt màu trắng có dòng kẻ chứa cục và bột màu trắng nghi là ma túy tại vị trí lắp pin của bình đun nước nóng đặt ở phía sau tường nhà, tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng trong 20 gói nhỏ trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Hoàng Văn T khai nhận: Bản thân T nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng, T được mua ma túy (Heroine) với Nguyễn Hoàng M, trú tại tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn hai lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào buổi sáng ngày 17/01/2024 (không nhớ giờ cụ thể), Hoàng Văn T dùng điện thoại có số thuê bao 0865800984 của T gọi vào số thuê bao 0977468624 của M hỏi mua ma túy và được M đồng ý, T đã đi nhờ xe của một người không quen biết từ thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến nhà của M tại tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn mua với M 30 gói nhỏ ma túy, loại Heroine với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua, T đã sử dụng hết 30 gói nhỏ ma túy này trong ngày 17/01/2024 bằng hình thức đốt, hít.

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, T tiếp tục sử dụng số điện thoại 0865.800.xxx của T gọi vào số điện thoại 0977.468.xxx của M hỏi mua ma túy và được M đồng ý. Sau khi gọi điện, T đi nhờ xe của một người không quen biết từ thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến nhà M tại tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn mua với M 01 gói giấy màu trắng bên trong có 50 gói nhỏ ma túy loại Heroine với giá 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đi nhờ xe của một người không quen biết về nhà ở thôn N, xã Đ, huyện B. Về đến nhà T cất giấu 20 gói nhỏ ma túy vào bên dưới bình đun nước nóng trong phòng vệ sinh, số còn lại T đã sử dụng một số gói (không nhớ cụ thể), còn lại 08 gói nhỏ ma túy T cho vào trong 01 túi nilon trong suốt cất vào túi quần bên phải đang mặc với mục đích để sử dụng dần. Sau đó, T đi bộ sang khu vực thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn chơi thì bị Công an xã B, huyện C phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy T đang tàng trữ trên người.

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiến hành khám xét nhà ở và công trình phụ cận của Nguyễn Hoàng M tại tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình khám xét phát hiện, tạm giữ: 01 (một) túi nhựa màu trắng trong suốt, bên trong có 01 gói giấy một mặt có nhiều màu sắc, một mặt màu trắng thu tại túi treo trên tay nắm cửa phòng ngủ của bà Hoàng Thị Thúy H (mẹ đẻ của M), bên trong gói giấy chứa cục và bột màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng trong gói giấy trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroie; 02 (hai) lọ nhựa màu trắng, trên thân 02 lọ này có dòng chữ NƯỚC OXY GIÀ, bên trong 02 lọ chứa dung dịch màu hồng và 01 (một) lọ nhựa màu hồng, trên thân lọ có dòng chữ XYLITOL bên trong chứa dung dịch màu hồng thu giữ tại trong tủ lạnh trong phòng khách nhà của Nguyễn Hoàng M; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO màu xanh do Nguyễn Hoàng M tự nguyện giao nộp; 10 (mười) mảnh giấy một mặt có nhiều màu sắc, 01 mặt màu trắng thu tại đầu giường ngủ trong phòng ngủ của bà Hoàng Thị Thúy H (mẹ của M); 01 (một) cân tiểu ly cùng bàn cân và quả cân thu giữ tại tủ trong phòng khách nhà ở của Nguyễn Hoàng M.

Bị can Nguyễn Hoàng M khai nhận: Vào ngày 13/01/2024, M bắt xe khách đi từ nhà xuống thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mua 01 gói ma túy với giá 3.000.000 đồng với một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, sau khi mua được ma tuý M bắt xe khách đi về nhà rồi chia nhỏ gói ma túy mua được thành 80 gói nhỏ cất giấu trong phòng ngủ của mình. Toàn bộ 80 gói ma túy trên M bán cho Hoàng Văn T 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào buổi sáng ngày 17/01/2024 (không nhớ giờ cụ thể), khi Minh đang ở nhà ở của mình tại tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì có người tên T (không rõ họ tên, tuổi cụ thể), nhà ở thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn gọi vào số điện thoại 0977.468.xxx của M hỏi mua ma túy với số tiền 3.000.000 đồng, M đồng ý và bảo T đến nhà M lấy. Khoảng 10 giờ cùng ngày T đến nhà, M dẫn T vào khu vực bếp của mình, T đưa cho M số tiền 3.000.000 đồng và M đưa cho T 30 gói nhỏ ma túy. Sau khi mua được ma túy thì T đi về.

Lần thứ hai: Vào buổi sáng ngày 18/01/2024 (không nhớ giờ cụ thể), T tiếp tục gọi vào số điện thoại 0977.468.xxx của M hỏi mua ma túy với số tiền 4.000.000 đồng, M đồng ý bán và bảo T đến nhà mình lấy. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày T đến nhà đi vào khu vực bếp nhà M, T đưa cho M số tiền 4.000.000 đồng và M đưa lại cho Tim 50 gói nhỏ ma túy. Sau khi mua được ma túy thì T đi về.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng lập hồi 21 giờ 15 phút ngày 18/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn xác định tổng khối lượng chất cục và bột màu trắng (Heroine) chứa trong 08 gói nhỏ bằng giấy chứa trong gói nilon thu giữ trên người Hoàng Văn T khi bắt quả tang là 0,39 gam (không phẩy ba chín gam). Sau khi cân đã niêm phong vào phong bì ký hiệu T3 gửi đi giám định, giấy gói, vỏ phong bì cũ niêm phong tại phong bì ký hiệu T4.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng lập hồi 17 giờ 25 phút ngày 19/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn xác định tổng khối lượng cục và bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy một mặt có nhiều màu sắc, một mặt màu trắng chứa trong 01 túi nioln thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hoàng M là 0,02g (không phẩy không hai gam). Sau khi cân đã niêm phong vào phong bì ký hiệu C1 gửi đi giám định, giấy gói, vỏ phong bì cũ niêm phong tại phong bì ký hiệu C2.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng lập hồi 17 giờ 40 phút ngày 19/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn xác định tổng khối lượng chất cục và bột màu trắng (Heroine) chứa trong 20 gói nhỏ bằng giấy chứa trong gói nilon thu giữ khi khám xét nhà ở của Hoàng Văn T là 0,96 gam (không phẩy chín sáu gam). Sau khi cân đã niêm phong vào phong bì ký hiệu C3 gửi đi giám định, giấy gói, vỏ phong bì cũ niêm phong tại phong bì ký hiệu C4.

Đối với 02 (hai) lọ nhựa màu trắng, trên thân 02 lọ có dòng chữ NƯỚC OXY GIÀ, bên trong 02 lọ chứa dung dịch màu hồng và 01 (một) lọ nhựa màu hồng, trên thân lọ có dòng chữ XYLITOL bên trong chứa dung dịch màu hồng thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hoàng M, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn ra quyết định số 29/QĐ- ĐCSKT- MT ngày 19/01/2024 trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định chất ma túy.

Kết luận giám định số 57/KL- KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:

Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T3 gửi giám định là ma túy: loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T3 có khối lượng 0,39 gam (không phẩy ba chín gam).

Kết luận giám định số 60/KL- KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:

Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong 02 (hai) phong bì ký hiệu C1 và C3 gửi giám định đều là ma túy: loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C1 có khối lượng 0,02 gam (không phẩy không hai gam)

Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C3 có khối lượng 0,96 gam (không phẩy chín sáu gam).

Kết luận giám định số 524/KL- KTHS ngày 07/02/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu dung dịch màu hồng đựng trong 02 (hai) lọ nhựa trên thân có dòng chữ “NƯỚC OXY GIÀ 3%” gửi giám định, tổng thể tích dung dịch màu hồng trong 02 lọ là 100,0 mL

Tìm thấy chất ma túy Methadone có trong dung dịch màu hồng đựng trong 01 (một) lọ nhựa trên thân có dòng chữ “XYLITOL” gửi giám định, thể tích dung dịch màu hồng là 22,0 mL. Nồng độ Methadone là 0,46mg/mL, khối lượng Methadone có trong 22,0 mL dung dịch màu hồng là 0,01 gam.

Về vật chứng:

Đối với 01 túi nilon bên trong chứa 01 gói ma túy Heroine, có khối lượng 0,02 gam (thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hoàng M), niêm phong trong phong bì ký hiệu C1 gửi đi giám định, toàn bộ số ma túy đã được dùng để giám định hết.

Đối với 01 chiếc cân tiểu ly, bàn cân và quả cân bằng kim loại, quá trình điều tra xác định chiếc cân là của ông Nguyễn Vũ T (đã chết) là bố đẻ Nguyễn Hoàng M để lại (khi còn sống ông T dùng để cân vàng), không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng M đồng thời bà Hoàng Thị Thúy H (mẹ đẻ của Nguyễn Hoàng M) có đơn xin lại tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.

Đối với 02 (hai) lọ nhựa màu trắng, trên thân 02 lọ có dòng chữ NƯỚC OXY GIÀ, bên trong 02 lọ chứa dung dịch màu hồng và 01 (một) lọ nhựa màu hồng, trên thân lọ có dòng chữ XYLITOL bên trong chứa 0,01 gam ma túy loại Methadone (thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hoàng M), do khối lượng 0,01 gam ma túy loại Methadone của Nguyễn Hoàng M tàng trữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Chợ Đồn để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng M và ra Quyết định tiêu hủy toàn bộ số vật chứng liên quan theo quy định.

Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của Hoàng Văn T sau khi trích giám định còn lại gồm: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T46 (bên trong phong bì chứa 0,35 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định), 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T48 (bên trong phong bì chứa 0,92 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định) cùng các vật chứng: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T2, bên trong chứa 02 (hai) mảnh giấy; 01(Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T4, bên trong chứa 01 (một) phong bì ký hiệu T1 và túi nilon, giấy gói ban đầu; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C2, bên trong chứa phong bì ký hiệu M3 và giấy gói ban đầu; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C4, bên trong chứa phong bì ký hiệu T10 và giấy gói ban đầu; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt có nhiều màu sắc, một mặt màu trắng. Tất cả số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 15/CT - VKSCĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M từ 07 năm đến 08 năm tù; về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T46 (bên trong phong bì chứa 0,35 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định), 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T48 (bên trong phong bì chứa 0,92 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định) cùng các vật chứng: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T2, bên trong chứa 02 (hai) mảnh giấy; 01(Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T4, bên trong chứa 01 (một) phong bì ký hiệu T1 và túi nilon, giấy gói ban đầu; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C2, bên trong chứa phong bì ký hiệu M3 và giấy gói ban đầu; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C4, bên trong chứa phong bì ký hiệu T10 và giấy gói ban đầu; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt có nhiều màu sắc, một mặt màu trắng.

Tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước: 01(Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh dương, nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, bên trong điện thoại lắp một thẻ sim; 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ VIVO, đã qua sử dụng, bên trong điện thoại lắp một thẻ sim.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng M nộp lại số tiền 7.000.000 đồng do bán ma tuý mà có.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hoàng M phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Hoàng Văn T thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên xem xét miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đều nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng M khai nhận: Vào ngày 13/01/2024, bị cáo bắt xe khách từ nhà tại Tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đi xuống khu vực thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mua 01 gói ma túy với giá 3.000.000 đồng với một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) đem về nhà, sau đó chia nhỏ gói ma túy mua được ra thành thành 80 gói nhỏ cất giấu trong phòng ngủ để bán kiếm lời. Trong ngày 17/01/2024 bị cáo đã bán cho cho Hoàng Văn T 30 gói ma tuý với giá 3.000.000 đồng, đến ngày 18/01/2024 bị cáo tiếp tục bán cho cho Hoàng Văn T 50 gói ma tuý còn lại với giá 4.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo có được từ việc bán ma tuý là 7.000.000 đồng. Ngoài ra khi cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh bắc Kạn khám xét khẩn cấp nhà của bị cáo còn thu giữ của bị cáo 0,01 gam ma tuý Methadone trong lọ nhựa trên thân có dòng chữ “XYLITOL” để sử dụng cá nhân.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma tuý, trong các ngày 17 và 18/01/2024 bị cáo được mua ma tuý với Nguyễn Hoàng M hai lần, cụ thể: Ngày 17/01/2024 bị cáo có gọi điện để hỏi mua ma tuý với Nguyễn Hoàng M, khi được M đồng ý bán ma tuý cho, bị cáo đã đến nhà của M tại Tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn mua với M 30 gói ma tuý với giá 3.000.000 đồng đem về sử dụng hết trong ngày. Đến 18/01/2024 bị cáo tiếp tục gọi điện hỏi mua ma tuý với Nguyễn Hoàng M, sau khi được M đồng ý, bị cáo đã đến nhà của M tại Tiểu khu 5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn mua với M 50 gói ma tuý với giá 4.000.000 đồng đem về nhà để sử dụng, bị cáo cất giấu tại nhà 20 gói và sử dụng một phần ma tuý, số còn lại 08 gói bị cáo đem theo trên người để sử dụng dần. Khi bị cáo đi sang xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn chơi thì bị cơ quan Công an xã B, huyện Chợ Đồn bắt giữ và thu toàn bộ số ma tuý. Tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 1,35 gam, loại Heroine.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Hành vi hai lần bán trái phép chất ma túy cho người khác để kiếm lời của bị cáo Nguyễn Hoàng M cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành tàng trữ trái phép 1,35 gam ma túy loại Hêroine để sử dụng của bị cáo Hoàng Văn T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 15/CT - VKSCĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Hoàng M đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Hoàng M có bố đẻ là ông Nguyễn Vũ T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hoàng M có nhân thân xấu thể hiện việc tại thời điểm phạm tội này bị cáo đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 24/HSST ngày 20/6/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Bị cáo Hoàng Văn T trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị các cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 túi nilon bên trong chứa 01 gói ma túy Heroine, có khối lượng 0,02 gam (thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hoàng M), niêm phong trong phong bì ký hiệu C1 gửi đi giám định, toàn bộ số ma túy đã được dùng để giám định hết.

Đối với 01 chiếc cân tiểu ly, bàn cân và quả cân bằng kim loại, quá trình điều tra xác định chiếc cân là của ông Nguyễn Vũ T (đã chết) là bố đẻ Nguyễn Hoàng M để lại (khi còn sống ông T dùng để cân vàng), không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng M đồng thời bà Hoàng Thị Thúy H (mẹ đẻ của Nguyễn Hoàng M) có đơn xin lại tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H là đúng quy định pháp luật.

Đối với 02 (hai) lọ nhựa màu trắng, trên thân 02 lọ có dòng chữ NƯỚC OXY GIÀ, bên trong 02 lọ chứa dung dịch màu hồng và 01 (một) lọ nhựa màu hồng, trên thân lọ có dòng chữ XYLITOL bên trong chứa 0,01 gam ma túy loại Methadone (thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hoàng M), do khối lượng 0,01 gam ma túy loại Methadone của Nguyễn Hoàng M tàng trữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Chợ Đồn để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng M và ra Quyết định tiêu hủy toàn bộ số vật chứng liên quan theo quy định là đúng quy định pháp luật.

Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của Hoàng Văn T sau khi trích giám định còn lại gồm: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T46 (bên trong phong bì chứa 0,35 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định), 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T48 (bên trong phong bì chứa 0,92 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định) cùng các vật chứng: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T2, bên trong chứa 02 (hai) mảnh giấy; 01(Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T4, bên trong chứa 01 (một) phong bì ký hiệu T1 và túi nilon, giấy gói ban đầu; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C2, bên trong chứa phong bì ký hiệu M3 và giấy gói ban đầu; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C4, bên trong chứa phong bì ký hiệu T10 và giấy gói ban đầu; 10 (Mười) mảnh giấy một mặt có nhiều màu sắc, một mặt màu trắng là các loại vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội ma tuý không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01(Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh dương, nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, bên trong điện thoại lắp một thẻ sim; 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ Vivo, đã qua sử dụng, bên trong điện thoại lắp một thẻ sim là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 7.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hoàng M có được từ việc bán ma tuý cho bị cáo Hoàng Văn T sau đó tiêu xài hết, xác định là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên buộc bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

[7] Trong vụ án còn có đối tượng nam giới khoảng 50 tuổi (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể) theo lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng M là người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo tại khu vực thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được lai lịch cụ thể của đối tượng này nên không đủ cơ sở để điều tra xử lý.

[8] Đối với hành vi tàng trữ 0,01 gam ma túy loại Methadone để sử dụng của bị cáo Nguyễn Hoàng M, do khối lượng ma túy chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Chợ Đồn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng M và xử lý tang vật vi phạm là đúng quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng M phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Hoàng Văn T thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/01/2024).

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 24 tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 18/01/2024 đến ngày 24/01/2024), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt của bản án.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gồm:

  • 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T46 (bên trong phong bì chứa 0,35 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định);
  • 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T48 (bên trong phong bì chứa 0,92 gam ma túy Heroine hoàn trả sau giám định); 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T2, bên trong chứa 02 (hai) mảnh giấy;
  • 01(Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T4, bên trong chứa 01 (một) phong bì ký hiệu T1 và túi nilon, giấy gói ban đầu;
  • 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C2, bên trong chứa phong bì ký hiệu M3 và giấy gói ban đầu;
  • 01 (Một) phong bì đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu C4, bên trong chứa phong bì ký hiệu T10 và giấy gói ban đầu;
  • 10 (Mười) mảnh giấy một mặt có nhiều màu sắc, một mặt màu trắng.
  • 01 thẻ sim điện thoại lắp trong điện thoại OPPO và 01 thẻ sim điện thoại lắp trong điện thoại VIVO.

Tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước:

  • 01(Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh dương, nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ Vivo, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn).

Bị cáo Nguyễn Hoàng M phải nộp lại số tiền 7.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng M phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Văn T.

[4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKS tỉnh;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND Chợ Đồn;
  • - Công an Chợ Đồn;
  • - THADS Chợ Đồn;
  • - Người tham gia tt;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Triệu Văn Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS - ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger