Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 21-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Trần Quý Hòa;
    • Ông Nguyễn Thành Trưởng.
  • Thư ký phiên tòa:
    • + Tại điểm cầu trung tâm: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
    • + Tại điểm cầu thành phần: Bà Võ Hồng G - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
    • + Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Thu T - Kiểm sát viên.
    • + Tại điểm cầu thành phần: Bà Huỳnh Kim V - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 20/3/2024, tại 02 điểm cầu: điểm cầu trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn L; tên gọi khác: không; sinh ngày 28/10/2005, tại A, Bình Định; nơi thường trú: Thôn T, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện tại: Đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: con ngoại hôn; con bà: Trần Thị Thu Á, sinh năm 1975; vợ con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: Ngày 29/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định tuyên phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành án xong; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn L: Ông Phạm Minh V1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, có mặt.

- Bị hại: Bà Trần Hoàng Thị Thái N, sinh năm 1990;

Nơi cư trú: Thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

  1. Ông Bùi Long H, sinh ngày 26/9/2008;
  2. Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Lê T1, sinh năm 1984 (cha ruột);

    Cùng trú tại: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Ông Vy Ngọc Thiên T2, sinh ngày 17/11/2007;
  4. Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1981 (mẹ ruột);

    Cùng trú tại: Thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  5. Ông Trần Lê Anh T3, sinh ngày 18/7/2008;
  6. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh Đ, sinh năm 1981 (cha ruột);

    Nơi cư trú: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  7. Ông Trương Ngọc V2, sinh năm 1987;
  8. Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

    Nơi ở hiện tại: Thôn B, thị trấn A, huyện A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

  9. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1965;
  10. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 25/7/2023, Bùi Anh Q (sinh năm 2000, ở thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định) nhờ Bùi Long H xuống huyện H, tỉnh Bình Định trông coi vật liệu công trình thì H đồng ý. Lúc này, H đang ngồi chơi với Vy Ngọc Thiên T2 nên H rủ T2 và gọi điện thoại rủ Trần Văn L đi cùng thì T2 và L đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DAME, biển kiểm soát 77M1-0833 (xe mô tô của Trương Ngọc V2) đi đến chỗ H rồi đưa xe cho T2 điều khiển chở H và L đi đến trại công trình tại thôn A, xã Â, huyện H. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày 25/7/2023, trong lúc đang ngồi coi vật liệu tại trại công trình, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản (bia) để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên H nói với T2 và L “Thôi đi về kiếm bia bán”, T2 và L biết ý H rủ đi trộm cắp bia bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên T2 và L đồng ý. T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DAME, biển kiểm soát 77M1-0833 chở L và H đi về hướng huyện A, tỉnh Bình Định. Khi đi qua khỏi Trường Trung học cơ sở Â (thuộc thôn H, xã Â, huyện H) khoảng hơn 50m thì H, T2, L nhìn thấy tiệm tạp hoá của Trần Hoàng Thị Thái N ở bên phải đường theo chiều đi còn bật sáng đèn, thấy có bia nên H nói “Bia kia nè quay lại”. Nghe vậy, T2 điều khiển xe quay lại rồi đi vào đường bê tông bên hông tiệm tạp hoá để quan sát lối đột nhập, sau đó đến để xe mô tô tại Trường Trung học cơ sở Â, cách tiệm tạp hoá của N khoảng hơn 50m. Lúc này, L nói với H và T2 “Tao đứng đây, tao đang có án không đi được” còn T2 và H đi bộ đến đường bê tông bên hông quán của N. H đứng ngoài cảnh giới, T2 trèo qua hàng rào tiệm tạp hoá vào trong quán đi đến vị trí để bia, dùng tay ôm một lần 02 thùng bia Tiger bạc còn nguyên, chưa khui, loại bia một thùng 24 lon ra đặt trên nền gạch sát hàng rào. T2 đưa từng thùng bia qua hàng rào cho H rồi trèo qua hàng rào ra ngoài, lúc này khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày 25/7/2023. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô chở L, H cùng 02 thùng bia trộm cắp được về chuồng bò nhà Trường cất giấu.

Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 26/7/2023, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DAME biển kiểm soát 77M1-0833 chở L đi tìm kiếm nơi tiêu thụ 02 thùng bia đã trộm cắp được. Trên đường đi, T2 nhìn thấy Trần Lê Anh T3 (là bạn của T2 và L) nên rủ T3 vào chuồng bò nhà Trường chơi. Khi đến chuồng bò, T2 chỉ 02 thùng bia và rủ T3 mang đi bán cùng với T2. Lúc đó, L nói “Bay đi coi giấu giấu chứ bia ăn trộm đó”. T3 nghe vậy biết rõ 02 thùng bia do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý đi bán với T2. T3 ôm 02 thùng bia ra để trên xe mô tô nhãn hiệu DAME, biển kiểm soát 77M1-0833 rồi T2 điều khiển xe chở T3 đến tiệm tạp hoá “Cô M” của Nguyễn Thị Đ1 để bán. T3 gặp bà Đ1 và hỏi “Cô có mua bia không, nhà con cúng còn dư”, bà Đ1 trả lời “Mua” với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T2, H, L, T3 sử dụng số tiền trên uống nước hết 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), còn lại 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng), T2, L và H chia mỗi người 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 13/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 02 (hai) thùng bia lon, loại bia Tiger bạc, còn nguyên, chưa khui, một thùng 24 lon có giá trị: 780.000 đồng (bảy trăm tám mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: Không.

Về phần dân sự: Gia đình bị cáo Trần Văn L và các đối tượng đã khắc phục hậu quả và bên bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự.

Bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSHA ngày 19/3/2024 của VKSND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn L đã thừa nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L có mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chưa chấp hành tại bản án số 26/2022/HS-ST ngày 29/12/2022, Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Trần Văn L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 22/5/2023, đến ngày 25/7/2023 là 02 tháng 03 ngày, thời gian chưa chấp hành còn lại 03 tháng 27 ngày. Số ngày bị cáo chưa chấp hành 03 tháng 27 ngày được chuyển đổi thành 01 tháng 09 ngày tù.

- Về xử lý vật chứng: không.

- Về dân sự: Gia đình bị cáo Trần Văn L và các đối tượng đã khắc phục hậu quả và bên bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn L trình bày luận cứ bào chữa: Về tội danh thống nhất như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 06 đến 08 tháng tù. Về tổng hợp hình phạt, thống nhất như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại Trần Hoàng Thị Thái N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo Trần Văn L không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, VKSND huyện Hoài Ân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bà Trần Hoàng Thị Thái N, ông Bùi Long H, ông Bùi Lê T1, ông Vy Ngọc Thiên T2, bà Nguyễn Thị D, ông Trần Lê Anh T3, ông Trần Thanh Đ, bà Nguyễn Thị Đ1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Trương Ngọc V2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai đầy đủ. Việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Trần Văn L có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành án xong. Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 25/7/2023, tại tiệm tạp hoá của Trần Hoàng Thị Thái N ở thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, Trần Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 thùng bia Tiger bạc loại nguyên thùng 24 lon có giá trị 780.000 đồng. Do đó, hành vi của Trần Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo ý thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đang chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên vẫn không có ý thức học tập cải tạo và tự rèn luyện để trở thành công dân tốt mà tiếp tục phạm tội. Nên, cần phải lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục thành công dân tốt và làm gương cho những người khác. Nhưng xét, gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Đồng thời, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hình phạt của Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 29/12/2022, Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Trần Văn L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 31/01/2023, Chánh án Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định ra quyết định thi hành án hình sự và bàn giao quyết định thi hành án cho Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện A, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, thời gian đó bị cáo L không có mặt tại địa phương, tới ngày 22/5/2023 bị cáo L mới có mặt tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, tỉnh Bình Định để làm thủ tục thi hành án và cam kết chấp hành án. Nên thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày 22/5/2023, đến ngày 25/7/2023 là 02 tháng 03 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 03 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù. Số ngày bị cáo chưa chấp hành 03 tháng 27 ngày được chuyển đổi thành 01 tháng 09 ngày tù để tổng hợp hình phạt của bản án này theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trần Văn L và các đối tượng đã khắc phục hậu quả và bên bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét

[6] Các vấn đề khác:

  • - Đối với hành vi của Bùi Long H, Vy Ngọc Thiên T2 có dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp H chỉ mới 14 tuổi 09 tháng 29 ngày, T2 chỉ mới 15 tuổi 08 tháng 08 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự.
  • - Đối với hành vi của Trần Lê Anh T3 có dấu hiệu của tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng thờig điểm T3 thực hiện hành vi phạm tội chỉ mới 15 tuổi 06 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự.
  • - Đối với Nguyễn Thị Đ1 là người mua 02 thùng bia Tiger bạc do Vy Ngọc Thiên T2, Trần Lê Anh T3 bán. T2 và T3 không nói nên bà Đ1 không biết nguồn gốc 02 thùng bia nói trên là do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không đề cập trách nhiệm đối với Nguyễn Thị Đ1 là phù hợp.
  • - Đối với Trương Ngọc V2 là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển kiểm soát 77M1-0833 mà L sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Lạc không nói nên V2 hoàn toàn không biết L sử dụng xe mô tô do V2 sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không đề cập trách nhiệm đối với Trương Ngọc V2 là phù hợp.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[8] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn L là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Văn L thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 56; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn L 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Buộc bị cáo Trần Văn L phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tại bản án số: 26/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định, được chuyển đổi thành 01 (một) tháng 09 (chín) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Tổng hợp hình phạt bị cáo Trần Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 07 (bảy) tháng 09 (chín) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 01/02/2024.

  4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn L thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Hoài Ân;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Hoài Ân;
  • - Chi cục THADS huyện Hoài Ân;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Hoài Ân;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Trần Văn Lạc; tên gọi khác: không; sinh ngày 28/10/2005, tại An Lão, Bình Định; nơi thường trú: Thôn Tân An, xã An Tân, huyện An Lão, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện tại: Đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hoài Ân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger