Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HSST

Ngày 10/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Lâm

Ông Lò Việt Hưng

- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Sùng Thị P; Sinh ngày 01/01/1978, tại xã P, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản T, xã P, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Sùng A K (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Giàng Thị S, sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Thào A C, sinh năm 1976 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2025, tạm giam từ ngày 17/7/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc Trại giam Công an tỉnh L. (Có mặt).

2. Họ và tên: Tráng A C1; Sinh ngày 01/01/1985, tại xã P, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản T, xã P, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Tráng A M, sinh năm 1963 và bà Vàng Thị V, sinh năm 1965; Bị cáo sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với chị Giàng Thị D, sinh năm 1984 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2025, tạm giam từ ngày 17/7/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc Trại giam Công an tỉnh L. (Có mặt).

Người phiên dịch cho bị cáo Sùng Thị P: Bà Vàng Thị N, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

Người làm chứng:

  1. Lò Văn M1;
  2. Hầu A T.

(Những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 10/7/2025, tại khu vực bản T, xã P, tỉnh Lai Châu, Sùng Thị P hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch 01 gói Heroine (bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh) với giá 500.000 đồng. Mua được H, Sùng Thị P chia thành 14 gói nhỏ, mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh (trong đó 06 gói được gói chung trong nilon màu xanh, gói chung vào một túi nilon xanh, cất trong túi áo ngực màu trắng treo trong buồng ngủ; 06 gói cho vào lọ nhựa trắng đựng trong túi vải màu đen cất giấu trong buồng ngủ; 02 gói còn lại gói chung trong mảnh nilon trắng, cất vào túi vải thổ cẩm nhiều màu, treo cạnh giường ngủ) không cho ai biết, mục đích để bán kiếm lời.

Khoảng 16 giờ ngày 11/7/2025, Lò Văn M1 (sinh năm 1991, trú tại bản N, xã T, tỉnh Lai Châu) đi bộ đến nhà Tráng A C1 (sinh năm 1985, trú tại bản Trung Tâm, xã P, tỉnh Lai Châu) tìm mua H sử dụng. Lúc này Hầu A T (sinh năm 1980, trú tại bản Nà Phân, xã P C2 cũng đi đến thấy M1 (là người quen với T từ trước) đi vào nhà Tráng A thì cũng đi theo. Biết Tráng A C1 cũng là người nghiện ma tuý nên Lò Văn M1 hỏi mua H và đưa cho T1 A Chớ 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Do không có Heroine nên T1 A C1 nói “Tao không có đâu, chỉ đi mua hộ cho thôi”, Hầu A T đứng gần đó nghe thấy cũng đưa cho T1 A Chớ 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng nhờ Tráng A C1 mua hộ Heroine. Nhận tiền của Lò Văn M1 và Hầu A T, Tráng A C1 đi bộ đến nhà Sùng Thị P (sinh năm 1978, trú cùng bản Trung Tâm, xã P) để hỏi mua hộ Heroine cho M1 và T. Tại nhà của P, Sùng Thị P đã bán 02 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh cất trong túi áo ngực màu trắng treo trong buồng ngủ cho T1 A C1 lấy số tiền 200.000 đồng. Mua được H, Tráng A mang về nhà đưa cho Lò Văn M1 và Hầu A T mỗi người 01 gói. Nhận Heroine từ Tráng A, Lò Văn M1 và Hầu A T đã ngồi xuống cạnh bếp trong nhà T1 A C1 lấy số Heroine vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức hít, khi Lò Văn M1 và Hầu A T sử dụng ma tuý Tráng A C1 nhìn thấy nhưng không nói gì. Lò Văn M1 và Hầu A T vừa sử dụng xong thì bị lực lượng Công an tỉnh L phát hiện lập biên bản vật chứng thu giữ của Lò Văn M1 là 01 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh nilon màu xanh; thu giữ của Hầu A T 01 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu xanh.

Căn cứ lời khai của Tráng A, hồi 18 giờ 00 ngày 11/7/2025 Công an tỉnh L giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Sùng Thị P. Quá trình khám xét Sùng Thị P tự giác lấy trong buồng ngủ của P ra giao nộp 12 gói Heroine, gồm: 04 gói được gói bằng nilon màu xanh, (cả 04 gói được gói chung vào một mảnh nilon màu xanh, cất trong túi áo ngực màu trắng); 06 gói được gói bằng nilon màu xanh đựng trong lọ nhựa màu trắng cất giấu trong túi vải màu đen; 02 gói được gói bằng nilon màu xanh, (cả 02 gói được gói chung bằng mảnh nilon trắng, đựng trong túi vải thổ cẩm nhiều màu); 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (tổng 200.000 đồng).

Tại bản Kết luận giám định số 563 ngày 17/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Sùng Thị P có khối lượng 2,1 gam, là ma túy, loại Heroine (H) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại bản Kết luận giám định số 593 ngày 22/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 200.000 VNĐ gửi đến giám định là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm: 2,1 gam Heroine thu giữ của Sùng Thị P đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại gồm: 02 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu trắng; 15 mảnh nilon màu xanh; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 túi vải màu đen có dây đeo bằng vải màu đen; 01 túi vải thổ cẩm nhiều màu có dây đeo bằng vải màu đen và số tiền 200.000 đồng hiện đang được bảo quản, quản lý tại kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu.

Cáo trạng số 13/CT-VKSKV2 ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố bị cáo Sùng Thị P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Truy tố bị cáo Tráng A C1 về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Sùng Thị P 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo Sùng Thị P.

Áp dụng khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Tráng A C1 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo Tráng A C1.

Buộc các bị cáo Sùng Thị P, Tráng A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu trắng; 15 mảnh nilon màu xanh; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 túi vải màu đen có dây đeo bằng vải màu đen; 01 túi vải thổ cẩm nhiều màu có dây đeo bằng vải màu đen. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do Sùng Thị P bán H1 mà có.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Sùng Thị P, Tráng A C1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Căn cứ ý kiến của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những làm chứng, vì vậy việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 293; Điểm d khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Sùng Thị P, Tráng A C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ ngày 11/7/2025, tại nhà của Sùng Thị P thuộc bản T, xã P, tỉnh Lai Châu, Sùng Thị P đã có hành vi bán trái phép 02 gói Heroine cho T1 A C1 lấy số tiền 200.000 đồng. Số Heroine trên là Tráng A C1 mua hộ Lò Văn M1 và Hầu A T. Đến hồi 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2025, tại nhà của Tráng A thuộc bản T, xã P, tỉnh Lai Châu, Tráng A C1 đang có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lò Văn M1 và Hầu A T bằng hình thức bỏ mặc cho Lò Văn M1 và Hầu A T sử dụng ma túy tại nhà ở của Tráng A thì bị lực lượng Công an tỉnh L bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Lò Văn M1 01 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh nilon màu xanh; thu giữ của Hầu A T 01 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu xanh.

Hồi 18 giờ 00 phút, cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Sùng Thị P. Thu giữ 12 gói Heroine có tổng khối lượng 2,1 gam. Sùng Thị P khai mục đích tàng trữ để bán kiếm lời và số tiền 200.000 đồng là tiền do Sùng Thị P bán Heroine cho Tráng A mà có.

Các bị cáo Sùng Thị P, Tráng A C1 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Sùng Thị P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Hành vi nêu trên của Tráng A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo Sùng Thị P, Tráng A sinh ra lớn lên tại xã P, tỉnh Lai Châu. Các bị cáo đều không được đi học, không biết chữ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo Tráng A C1 là người nghiện ma tuý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Sùng Thị P, Tráng A đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo Sùng Thị P; khoản 5 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo Tráng A C1.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 2,1 gam Heroine thu giữ của Sùng Thị P, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết. Đối với 02 mảnh giấy bạc một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu trắng; 15 mảnh nilon màu xanh; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 túi vải màu đen có dây đeo bằng vải màu đen; 01 túi vải thổ cẩm nhiều màu có dây đeo bằng vải màu đen là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Sùng Thị P là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo Sùng Thị P khai mua của 01 người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch tại bản Trung Tâm, xã P, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý, giải quyết.

Đối với hành vi Tráng A C1 nhận tiền của Lò Văn M1 và Hầu A T để mua hộ Heroine. Số H mà Tráng A C1 mua hộ Lò Văn M1 và Hầu A T đã sử dụng hết. Qua đấu tranh Tráng A C1 khai chỉ mua hộ Heroine cho Lò Văn M1 và Hầu A T, không được hưởng lợi từ việc mua hộ và cũng không được bàn bạc thỏa thuận giúp sức đối với Sùng Thị P về việc trao đổi mua bán ma túy. Do đó, hành vi của T1 A C1 không đủ yêu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các Điều 249 và Điều 250, 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn M1, Hầu A T. Quá trình điều tra xác định Lò Văn M1 và Hầu A T không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Do đó, Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Lò Văn M1, Hầu A T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sùng Thị P;

- Căn cứ khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tráng A C1;

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo.

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Sùng Thị P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Tuyên bố bị cáo Tráng A C1 phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Sùng Thị P 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2025.

- Xử phạt bị cáo Tráng A C1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2025.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa gas màu xanh, 01 mảnh nilon màu xanh thu giữ của Lò Văn M1; 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở một mặt có vết cháy màu đen, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 mảnh nilon màu xanh thu giữ của Hầu A T; 01 hộp bìa cát tông bên trong đựng 01 mảnh nilon màu trắng, 13 mảnh nilon màu xanh, 01 lọ nhựa màu trắng, 01 túi vải màu đen có dây đeo bằng vải màu đen, 01 túi vải thổ cẩm nhiều màu có dây đeo bằng vải màu đen. Tịch thu của Sùng Thị P số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Sùng Thị P, Tráng A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT, CQTHAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc Trại giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HSST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Sùng Thị P 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2025. - Xử phạt bị cáo Tráng A C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2025.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger