|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 15-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Trần Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn Ú, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2004 tại A, Kiên Giang; CCCD: [...]; Nơi cư trú: ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn Q và bà Quách Thị Đ; vợ Nguyễn Thị Kim N; có 01 người con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/01/2025 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 13/07/2024 chị Đặng Thị L, sinh năm 1981, HKTT: ấp T, xã Đ, A, Kiên Giang, có đậu 01 chiếc vỏ máy (loại vỏ Composit dài 7,2m, máy xe 3763) dưới mé sông X, tại bến Vật liệu xây dựng Tiến Đạt thuộc ấp T, xã Đ, huyện A. Đến 18 giờ cùng ngày thì chị Đặng Thị L xuống vỏ để đi về thì phát hiện bị mất 01 bình ắc quy, loại 150AH (Ampe), hiệu Đồng Nai, dùng để đề máy chạy, nên chị L đến Công an xã Đ, huyện A, trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo của chị Đặng Thị L Công an xã Đ tiến hành xác minh và phát hiện nghi vấn đối tượng đã thực hiện việc trộm cắp tài sản tên Bùi Văn Ú nên tiến hành mời lên làm việc; tại Cơ quan Công an Bùi Văn Ú thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và khai nhận như sau: Vào buổi sáng ngày 13/7/2024 sau khi tổ chức uống rượu tại nhà ở địa chỉ ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, đến 15 giờ cùng ngày thì Ú lấy vỏ máy của mình (loại vỏ Composit dài 4,7m và máy vangua 6.0HP) chạy lên hướng Kênh Mười Q1 để mua đồ dùng, lúc chạy ngang cửa hàng V thì thấy có 01 vỏ máy xe đậu dưới mé sông, Bùi Văn Ú thấy không có người trong giữ nên ghé vỏ lại tháo lấy 01 cái bình ắc quy loại 150AH (Ampe) để dưới vỏ dùng để câu đề máy chạy. Sau khi lấy xong Ú để qua vỏ máy của mình chạy về nhà tại kênh M thuộc ấp T, xã Đ để cất giấu. Sau đó, Ú bị Công an xã Đ phát hiện mời về trụ sở Công an xã làm việc. Ú đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đã giao nộp lại tài sản lấy trộm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 (một) Bình ắc quy, nhãn hiệu Đồng Nai 150 ampe, mua vào ngày 18/06/2024, tại thời điểm định giá vào tháng 9 năm 2024 có giá trị 2.646.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 (một) bình ắc quy loại 150AH (Ampe) hiệu Đồng Nai đã qua sử dụng;
- - 01 (một) vỏ Coposite dài 4,7m, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) máy Vangua 6.0HP đã qua sử dụng.
Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại Đặng Thị L 01(một) bình ắc quy loại 150AH (Ampe) hiệu Đồng nai đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đặng Thị L đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS-AM ngày 17-02-2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Bùi Văn Út về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Bùi Văn Ú phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Ú từ 03 đến 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị không xem xét. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) vỏ Composite dài 4,7m và 01 (một) máy Vangua 6.0HP do Bùi Văn Ú dùng vào việc phạm tội.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Thấy họ đã có lời khai, đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên việc xét xử không ảnh hưởng. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về hành tội phạm:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 13/7/2024 tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Bùi Văn Ú điều khiển vỏ máy đi mua đồ về dùng, khi đi ngang cửa hàng vật liệu xây dựng T thì nhìn thấy có 01 vỏ máy xe đậu dưới mé sông, không có người trong giữ nên Ú ghé vỏ máy lại và tháo lấy 01 cái bình ắc quy loại 150AH (Ampe) để dưới vỏ dùng để câu đề máy chạy. Sau khi lấy xong Ú để qua vỏ máy của mình và chạy về nhà để cất giấu. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 kết luận giá trị tài sản Bùi Văn Ú đã lấy trộm của chị Đặng Thị L có giá trị là 2.646.000 đồng.
[2.2] Về tội danh: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý; tài sản bị cáo lấy trộm có giá trị 2.646.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Bùi Văn Ú phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; sau khi Công an mời làm việc bị cáo đã giao nộp đầy đủ tài sản chiếm đoạt để trả cho bị hại nên được coi là đã khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo chưa chấp hành tốt pháp luật, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, tuy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ nên chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[5] Về vật chứng: 01 (một) vỏ Coposite dài 4,7m, đã qua sử dụng; 01 (một) máy Vangua 6.0HP đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.
[6] Về án phí, bị cáo Bùi Văn Ú phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Ú phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Ú 04 (bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 21/01/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp: tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm: 01 (một) vỏ Coposite dài 4,7m, đã qua sử dụng; 01 (một) máy Vangua 6.0HP đã qua sử dụng. (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS-AM ngày 17-02-2025 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Bùi Văn Ú phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15-4-2025). Bị hại vắng mặt nên quyền kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn U phạm tội Trộm cắp tài sản
