Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-ST

Ngày: 14-4-2025

V/v: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1.Ông Nguyễn Văn Đích
  • 2.Ông Nguyễn Kim Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 329/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QÐST- DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1)

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S2

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế C - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh S3 theo Quyết định số 4037/2024/QĐ-PC ngày 25/12/2024 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S2.

Ông Nguyễn Thế C uỷ quyền cho ông Trương Đình V - Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản uỷ quyền số 558/2024/GUQ-CNSH ngày 30/12/2024). (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ liên hệ: Số B N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu Q, sinh năm: 2000

Địa chỉ: Tổ H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên toà)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 21 tháng 11 năm 2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông Trương Đình V trình bày:

Vào ngày 24 tháng 8 năm 2023 Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 (S1) - Chi nhánh S3 và bà Phạm Thị Thu Q đã ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).

Căn cứ thu nhập của bà Q, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng với mục đích: tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tính đến ngày 02 tháng 11 năm 2024 bà Q thực hiện 09 giao dịch với tổng số tiền là 175.193.986 đồng. Lãi suất áp dụng 2,48%/tháng (lãi suất trong hạn) và được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 145.141.058 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Đến ngày 06 tháng 8 năm 2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Q và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (Dư nợ) sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 02 tháng 11 năm 2024, bà Q còn nợ ngân hàng các khoản sau:

Dư nợ: 34.434.039 đồng; lãi quá hạn: 3.803.237 đồng.

Tổng cộng: 38.237.276 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Q có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà Q vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm các Điều khoản và Điều kiện đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S2 - Chi nhánh S3 kính đề nghị Quý Tòa giải quyết buộc bà Q phải thanh toán dứt điểm toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh tính đến ngày xét xử 14 tháng 4 năm 2025: là: 45.202.755 đồng. Trong đó: Dư nợ: 34.434.039 đồng; lãi quá hạn: 10.768.716 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2025 cho đến khi bà Q trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24 tháng 8 năm 2023.

* Đối với bị đơn bà Phạm Thị Thu Q:

2

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà để bà Phạm Thị Thu Q trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng tại tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng cho đến ngày mở phiên tòa hôm nay bà Phạm Thị Thu Q vẫn vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án, không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ tại: Tổ H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

[2]. Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông Trương Đình V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Trương Đình V.

[3]. Bị đơn bà Phạm Thị Thu Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Thị Thu Q.

Về nội dung tranh chấp:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 11 năm 2024 nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24 tháng 8 năm 2023. Căn cứ Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính Phủ về thanh toán không dùng tiền mặt và Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng và căn cứ quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt”.

[2]. Về nội dung vụ án: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn S1 yêu cầu bà Phạm Thị Thu Q phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày 14 tháng 4 năm 2025 tổng cộng số tiền: 45.202.755 đồng. Trong đó nợ gốc: 34.434.039 đồng và lãi quá hạn: 10.768.716 đồng và tiền lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2025 theo mức lãi suất 02 bên đã ký kết tại Giấy đề

3

nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24 tháng 8 năm 2023 cho đến khi bà Q thanh toán xong các khoản nợ cho S1.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24 tháng 8 năm 2023 (kèm theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S2 và bà Phạm Thị Thu Q trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức phù hợp với các điều 401, 402, 405 của bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay bà Q đã thanh toán cho S1 số tiền 145.141.058 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). S1 đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Q không có thiện chí trả nợ. Do bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã quy định tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1 nên ngày 06 tháng 8 năm 2024 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1. Vì vây, S1 khởi kiện yêu cầu bà Q trả số tiền nêu trên là có căn cứ phù hợp với các điều 377, 428, 429 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 91, 95 luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho S1 trong việc thu hồi nợ. Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của S1 buộc bà Phạm Thị Thu Q phải có nghĩa vụ trả cho S1 tính đến ngày 14 tháng 4 năm 2025 tổng cộng số tiền: 45.202.755 đồng. Trong đó: Dư nợ: 34.434.039 đồng; lãi quá hạn: 10.768.716 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2025 cho đến khi bà Q trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24 tháng 8 năm 2023 cho đến khi bà Q thanh toán xong các khoản nợ cho S1.

[3]. Về án phí DSST: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn bà Phạm Thị Thu Q phải chịu án phí dân sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003135 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, các điều 357, 428, 429, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp

4

dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số 08/2016/AL và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 đối với bà Phạm Thị Thu Q về việc: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

Xử:

  1. Buộc bà Phạm Thị Thu Q phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 số tiền: 45.202.755 đồng (Bốn mươi lăm triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm năm mươi lăm đồng). Trong đó: nợ gốc : 34.434.039 đồng; lãi quá hạn: 10.768.716 đồng (lãi tính đến ngày 14 tháng 4 năm 2025)
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 15 tháng 4 năm 2025) bà Phạm Thị Thu Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thu Q có nghĩa vụ nộp là 2.260.137 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi ngàn một trăm ba mươi bảy đồng)
  4. Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 không phải chịu án phí. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 số tiền 955.931 đồng (Chín trăm năm mươi lăm ngàn chín trăm ba mươi mốt đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0003135 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà.
  5. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5

Nơi nhận :

  • - Đương sự;
  • - Viện KSND quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hai

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

  • Số bản án: 15/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương T yêu cầu bà Phạm Thị Thu Q trả số tiền 45.202.755 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger