|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 4 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thiện Bửu;
- Bà Nguyễn Thị Oanh Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Nguyễn Minh N, sinh năm 1976 (Có mặt);
- Địa chỉ cư trú: Số F, đường L, khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Đỗ Cao T, sinh năm 1975 (Có mặt);
- Địa chỉ cư trú: Số F, đường L, khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 11 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Minh N trình bày:
Về hôn nhân: Năm 1999, qua mai mối, bà kết hôn với Đỗ Cao T. Đăng ký kết hôn vào ngày 04/02/1999 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H (nay là Ủy ban nhân dân phường A). Bà và ông Đỗ Cao T chung sống hạnh phúc được thời gian dài. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2020 bà và ông Đỗ Cao T bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, bà và ông Đỗ Cao T thường xuyên tranh cãi, không còn tiếng nói chung, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc, nguyên nhân do ông Đỗ Cao T chỉ lo ăn chơi, đánh số, không chăm lo gia đình, bà đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Nay nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Cao T.
Về nuôi con chung: Bà và anh Đỗ Cao T có 02 người con chung tên Đỗ Ngọc Minh A, sinh ngày 09/01/2001 và Đỗ Cao Q, sinh ngày 30/8/2007; con chung tên Đỗ Ngọc Minh A đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Cao Q, không yêu cầu anh Đỗ Cao T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông Đỗ Cao T không có nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng bà, nên không yêu cầu giải quyết.
Trong bản tự khai đề ngày 03 tháng 01 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Đỗ Cao T trình bày: Thống nhất với tất cả lời trình bày về quá trình hôn nhân giữa ông với bà Nguyễn Minh N. Năm 1999, ông kết hôn với bà Nguyễn Minh N. Sau khi kết hôn, ông, bà chung sống hạnh phúc đến nay đã mấy chục năm, trong cuộc sống chung cũng có tranh cãi, cũng có mâu thuẫn, nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, không đến mức ly hôn, ông còn rất thương vợ con, giữa ông, bà không có rạn nứt gì cả, nên ông yêu cầu được đoàn tụ vợ chồng, không thống nhất ly hôn.
Về nuôi con chung: Ông và bà Nguyễn Minh N có 02 người con chung tên Đỗ Ngọc Minh A, sinh ngày 09/01/2001 và Đỗ Cao Q, sinh ngày 30/8/2007; con chung tên Đỗ Ngọc Minh A đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; con chung tên Đỗ Cao Q có nguyện vọng và đang sống cùng bà Nguyễn Minh N nên ông thống nhất giao con chung cho bà Nguyễn Minh N nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông và bà Nguyễn Minh N không có nợ ai và không có ai nợ ông, bà, nên không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của pháp luật; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Minh N với ông Đỗ Cao T; về nuôi con chung: Bà Nguyễn Minh N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Cao Q, sinh ngày 30/8/2007; về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Minh N không yêu cầu ông Đỗ Cao T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nên không xem xét, giải quyết; về tài sản và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Các đương sự khẳng định không yêu cầu, cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Minh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Đỗ Cao T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về hôn nhân: Ngày 04 tháng 02 năm 1999, bà Nguyễn Minh N và ông Đỗ Cao T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H (Nay là Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H), tỉnh Đồng Tháp là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống lúc đầu có hạnh phúc và sau này thường xuyên xảy ra rất nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau và bất đồng quan điểm, nhưng bà Nguyễn Minh N cũng đã tạo mọi điều kiện cho ông Đỗ Cao T khắc phục, sửa chữa, nhưng ông Đỗ Cao T không khắc phục, sửa chữa; đồng thời, bà Nguyễn Minh N và ông Đỗ Cao T đã ly thân. Nhận thấy tình cảm của ông, bà đã không còn, không có tiếng nói chung, không còn chung sống với nhau nữa, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, hôn nhân của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận cho ly hôn.
[4] Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của đương sự; bà Nguyễn Minh N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Cao Q, sinh ngày 30/8/2007 và cháu Đỗ Cao Q có nguyện vọng được sống chung với bà Nguyễn Minh N. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng cho con: Bà Nguyễn Minh N không yêu cầu ông Đỗ Cao T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không xem xét, giải quyết.
[7] Về nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56 và 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Minh N với ông Đỗ Cao T.
Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của đương sự; bà Nguyễn Minh N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Đỗ Cao Q, sinh ngày 30/8/2007.
(Hiện cháu Đỗ Cao Q, sinh ngày 30/8/2007 đang sống chung với bà Nguyễn Minh N).
Bà Nguyễn Minh N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Đỗ Cao T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng cho con: Không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số: 0012284 ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; bà Nguyễn Minh N đã nộp đủ án phí.
Ông Đỗ Cao T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/4/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Nguyễn Minh N với Đỗ Cao T
