Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04/4/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Đăng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Cương

2. Ông Dương Ngô Phiên

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Trang - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2024 về việc "tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2001
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Ong Thế T1, sinh năm 1992
  • Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 đăng ký kết hôn ngày 14/10/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Cuối năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 4/2024 mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, anh T1 không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị và anh T1 đã sống ly thân từ tháng 4/2024 đến nay. Chị xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Chị và anh T1 có 02 con chung là cháu Ong Thế A, sinh ngày 28/02/2019 (sinh trước khi kết hôn) và cháu Ong Thế K, sinh ngày 24/9/2020. Hiện cháu hai cháu đang ở với chị tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y. Các cháu vẫn phát triển khỏe mạnh bình thường. Chị làm nhân viên công ty thu nhập từ 9.000.000đồng đến 12.000.000đồng/tháng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cả 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản, công nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Ong Thế T1 mặc dù được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không đến Tòa án làm việc, không cung cấp ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T. Xử cho chị T ly hôn anh T1. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ong Thế A và cháu Ong Thế K. Chị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thủ tục tố tụng:

  • - Chị T nộp đơn yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung đối với anh T1 cư trú tại huyện Y. Tòa án nhân dân huyện Yên Thế thụ lý giải quyết vụ án “tranh chấp ly hôn, nuôi con” là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Khi khởi kiện, chị T yêu cầu được nuôi 01 con chung, còn 01 con chung giao cho anh T1 nuôi. Sau đó chị T thay đổi yêu cầu, chị yêu cầu được nuôi cả hai con chung. Xét thấy chị T thay đổi yêu cầu nuôi con không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi bổ sung yêu cầu nuôi 02 con chung của chị T.
  • - Anh T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T1.

[2] Về yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1:

Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Ong Thế T1 tự nguyện kết hôn, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị T là do không hợp nhau, anh T1 sống không có trách nhiệm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị T và anh T1 đã sống ly thân từ tháng 4/2024 đến nay. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T1. Anh T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không thể hiện ý kiến của mình chứng tỏ anh không còn mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân. Qua xác minh, gia đình anh T1 và địa phương cho biết: Năm 2023, chị T chuyển về kinh doanh cùng gia đình nhà đẻ, còn anh T1 đi làm công việc tự do. Do làm ăn xa nhau nên trong cuộc sống có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, anh chị đã sống ly thân từ tháng 08/2023 đến nay. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, thực tế anh chị đã không còn chung sống cùng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T ly hôn anh T1.

[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung là cháu Ong Thế A, sinh ngày 28/02/2019 và cháu Ong Thế K, sinh ngày 24/9/2020 hiện cháu hai cháu đang ở với chị T tại thôn Đ, xã H, huyện Y. Các cháu vẫn phát triển khỏe mạnh bình thường. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cả 02 con chung. Anh T1 không thể hiện nguyện vọng nuôi con của anh. Hiện nay chị T có công việc và thu nhập ổn định, anh T1 làm việc tự do thu nhập không ổn định. Do vậy, để đảm bảo cuộc sống, học tập của các cháu được ổn định, phát triển tốt, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T, giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và cháu K là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản, công nợ: Chị T và anh T1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn anh Ong Thế T1.
  2. Về con chung:
    • - Giao cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Ong Thế A, sinh ngày 28/02/2019 và cháu Ong Thế K, sinh ngày 24/9/2020.
    • - Sau khi ly hôn, anh Ong Thế T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
  4. Về tài sản, công nợ: Không giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0001773 ngày 18/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - CCTHADS huyện Yên Thế;
  • - UBND xã Đồng Kỳ;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng TTĐT;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thế Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Tr ly hôn anh Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger